favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

CHƯƠNG I

 

Khi cần giấu đi những rắc rối của mình, Tommy Wilhelm chẳng hề kém cỏi hơn bất kỳ ai. Ít nhất thì hắn nghĩ vậy, và cũng có đôi chút bằng chứng hậu thuẫn cho hắn. Hắn từng là một diễn viên – không, không hẳn, chỉ là một vai quần chúng – nhưng thế cũng đủ để hắn biết diễn xuất là thế nào. Hơn nữa, hắn đang hút xì gà, và khi một người đàn ông hút xì gà, lại đội mũ, hắn nắm thế chủ động; người khác khó lòng đoán biết hắn đang nghĩ gì. Hắn từ tầng hai mươi ba xuống sảnh chính ở tầng lửng để lấy thư trước bữa sáng, và hắn tin – hắn hy vọng – rằng mình trông cũng tạm ổn: mọi thứ vẫn ổn. Đó là một niềm hy vọng mong manh, bởi lẽ hắn chẳng thể cố gắng thêm được gì nữa. Đến tầng mười bốn, hắn ngó xem bố mình đã bước vào thang máy chưa; họ thường gặp nhau vào giờ này, trên đường đi ăn sáng. Nếu hắn có bận tâm về ngoại hình, thì chủ yếu là vì cụ thân sinh. Nhưng thang máy chẳng dừng ở tầng mười bốn, và cứ thế rơi xuống mãi. Rồi cánh cửa trơn tru mở ra, tấm thảm đỏ sẫm không đều màu trải khắp sảnh chính ùa về phía chân Wilhelm. Phía tiền sảnh, sảnh chính tối om và tĩnh lặng. Những tấm rèo kiểu Pháp to như cánh buồm chắn ánh mặt trời, nhưng trên cao, ba ô cửa sổ hẹp mở ra khoảng trời xanh, và Wilhelm thấy một con bồ câu sắp đậu xuống sợi xích lớn đỡ tấm bảng hiệu rạp chiếu phim ngay bên dưới sảnh. Trong một khoảnh khắc, hắn nghe thấy tiếng đập cánh mạnh mẽ.

Phần lớn cư dân khách sạn Gloriana đều đã qua tuổi hưu trí. Dọc theo Đại lộ Broadway ở các khu vực số 70, 80, 90 là nơi cư ngụ của một bộ phận lớn trong cộng đồng người già khổng lồ của New York. Nếu trời không quá lạnh hay ẩm ướt, họ chật kín các băng ghế trong những công viên nhỏ có rào chắn và dọc theo các miệng thông hơi tàu điện ngầm từ Quảng trường Verdi đến Đại học Columbia, họ tụ tập đông đúc trong các cửa hàng, quán ăn tự phục vụ, cửa hàng bách hóa, phòng trà, tiệm bánh, thẩm mỹ viện, phòng đọc sách và câu lạc bộ. Giữa những người cao tuổi ở Gloriana, Wilhelm cảm thấy lạc lõng. Hắn còn tương đối trẻ, mới ngoài bốn mươi, dáng người to lớn, tóc vàng với đôi vai rộng; lưng hắn nặng và khỏe, dù đã hơi khom hoặc trở nên thô kệch. Sau bữa sáng, những vị khách lớn tuổi thường ngồi xuống những chiếc ghế bành và sofa da thuộc màu xanh lá trong sảnh, bắt đầu tán gẫu và đọc báo; họ chẳng có việc gì để làm ngoài việc chờ đợi cho hết ngày. Nhưng Wilhelm vốn quen với một cuộc sống sôi động và thích ra ngoài một cách hăng hái vào buổi sáng. Và trong nhiều tháng qua, vì không có công việc, hắn đã duy trì tinh thần bằng cách dậy thật sớm; hắn cạo râu và có mặt ở sảnh lúc tám giờ. Hắn mua báo và vài điếu xì gà, uống một hai lon Coca-Cola trước khi vào ăn sáng cùng bố. Sau bữa sáng–ra ngoài, ra ngoài, ra ngoài để giải quyết công việc. Bản thân cái việc ra ngoài ấy đã trở thành công việc chính yếu. Nhưng rồi hắn nhận ra mình không thể duy trì việc này thêm được bao lâu nữa, và hôm nay hắn bắt đầu sợ hãi. Hắn ý thức được rằng thói quen hằng ngày của mình sắp sửa đổ vỡ và hắn cảm nhận một rắc rối khủng khiếp từ lâu đã được báo trước nhưng đến giờ vẫn vô hình sắp ập đến. Trước khi trời tối, hắn sẽ biết.

Dù vậy, hắn vẫn tuân theo lịch trình hàng ngày và băng qua sảnh.

Rubin, người chủ sạp báo, có đôi mắt kém. Có lẽ chúng không thực sự yếu nhưng chúng nghèo nàn về biểu cảm, với những mí mắt như ren cuộn xuống ở đuôi mắt. Lão ăn mặc chỉn chu. Điều đó có vẻ không cần thiếtlão đứng sau quầy hầu hết thời giannhưng lão ăn mặc rất chỉn chu. Lão mặc một bộ vest nâu sang trọng; ống tay áo làm những sợi lông trên đôi bàn tay nhỏ bé của lão trông ngại ngùng. Lão đeo một chiếc cà vạt Countess Mara có họa tiết vẽ tay. Khi Wilhelm bước tới, Rubin không nhìn thấy hắn; lão đang mơ màng nhìn ra khách sạn Ansonia, có thể nhìn thấy từ góc của lão, cách đó vài dãy nhà. Ansonia, một địa danh lớn của khu phố, do Stanford White xây dựng. Nó trông giống một cung điện baroque từ Prague hoặc Munich được phóng đại lên trăm lần, với những ngọn tháp, mái vòm, những khối phồng lớn và những bong bóng kim loại đã hóa xanh vì phơi nắng, những họa tiết sắt uốn lượn và những dải hoa. Những ăng-ten truyền hình đen mọc dày đặc trên các đỉnh tròn của nó. Dưới sự thay đổi của thời tiết, nó có thể trông như cẩm thạch hoặc như nước biển, đen như đá phiến trong sương mù, trắng như đá túp dưới ánh mặt trời. Sáng nay, nó trông như hình ảnh của chính nó phản chiếu trong vùng nước sâu, trắng và dạng cụm ở trên, với những biến dạng hang động ở bên dưới. Cả hai người đàn ông cùng nhìn ngắm nó.

Rồi Rubin cất lời: "Bố cậu vào ăn sáng trước rồi, ông cụ lịch thiệp ấy."

"Thế ạ? Hôm nay cụ lại đến sớm hơn cả cháu sao?"

"Chiếc áo cậu đang mặc bảnh thật đấy," Rubin nói. "Mua ở đâu thế, Saks à?"

"Không, chiếc này là Jack Fagman-Chicago."

Dẫu tâm trạng không hề thoải mái, Wilhelm vẫn có thể nhăn trán một cách dễ chịu. Một số cử động chậm rãi, lặng lẽ trên khuôn mặt hắn trông rất thu hút. Hắn lùi lại một bước, như thể đứng lùi ra xa chính mình để ngắm chiếc áo kỹ hơn. Ánh nhìn của hắn hài hước, như một lời bình về sự luộm thuộm của bản thân. Hắn thích mặc đồ đẹp, nhưng một khi đã mặc lên người, mỗi món dường như lại sống một cuộc đời riêng. Wilhelm cười, hơi thở hổn hển; răng hắn nhỏ; đôi má khi hắn cười và thở phì phò tròn hẳn lên, khiến hắn trông trẻ hơn nhiều so với tuổi. Ngày trước, khi hắn còn là một tân sinh viên đại học, mặc áo khoác lông gấu mèo và đội mũ len trên mái tóc vàng óng to bản, bố hắn thường bảo rằng, dù to xác thế nào, hắn cũng có thể dùng nhan sắc để dụ một con chim ra khỏi tán cây. Wilhelm giờ vẫn còn rất có duyên.

"Cháu thích màu xám bồ câu này," hắn nói với vẻ hòa đồng, dễ chịu. "Nó không giặt được. Phải gửi đến tiệm giặt hấp. Nó chẳng bao giờ thơm bằng đồ được giặt. Nhưng mà nó là một chiếc áo đẹp. Nó ngốn hết mười sáu, mười tám đô."

Chiếc áo này không phải do Wilhelm mua; nó là món quà từ ông chủ–ông chủ cũ của hắn, người mà hắn đã có chuyện bất hòa. Nhưng chẳng có lý do gì để hắn phải kể lại chuyện này với Rubin. Dù có lẽ Rubin đã biết–Rubin là kiểu người đàn ông biết, biết và biết tuốt. Nhân tiện, Wilhelm cũng biết khá nhiều chuyện về Rubin, về vợ của Rubin, công việc của Rubin, sức khỏe của Rubin. Chẳng điều nào trong số đó có thể nhắc đến, và gánh nặng lớn của những điều không nói ra khiến họ chẳng còn gì để trò chuyện.

"Chà, hôm nay trông cậu bảnh lắm," Rubin bảo.

Và Wilhelm vui vẻ đáp, "Thật ư? Ông thực sự nghĩ vậy sao?" Hắn không thể tin được. Hắn nhìn thấy bóng mình trong tủ kính đầy những hộp xì gà, giữa những con dấu trang trọng và vải damask và những bức chân dung nổi vàng của các danh nhân, García, Edward Đệ Thất, Cyrus Đại Đế. Phải tính đến độ tối và sự biến dạng của tấm kính, nhưng hắn nghĩ mình trông chẳng ổn lắm. Một nếp nhăn rộng như một dấu ngoặc đơn bao quát in trên trán hắn, điểm giữa hai hàng lông mày, và có những mảng màu nâu trên làn da vàng sậm của hắn. Hắn bắt đầu thấy nửa buồn cười trước cái bóng của chính đôi mắt mìnhngơ ngác, khắc khoải, khát khaovà lỗ mũi, đôi môi mình. Một con hà mã tóc vàng!đó là cách hắn tự nhìn nhận bản thân. Hắn thấy một khuôn mặt tròn to, một cái miệng rộng, đỏ tươi đầy sức sống, hàm răng cụt ngủn. Và cả cái mũ nữa; và điếu xì gà nữa. Mình đáng lẽ nên lao động chân tay nặng nhọc suốt đời, hắn suy ngẫm. Lao động chân chính vất vả khiến người ta kiệt sức và ngủ ngon lành. Ta tiêu hao hết năng lượng và cảm thấy khá hơn. Thay vào đó, mình lại phải đi khẳng định bản thânvậy mà.

Hắn thực sự đã nỗ lực rất nhiều, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc miệt mài bôn ba, đúng chứ? Và nếu như thời trẻ có thứ gì đó giúp hắn vượt qua những ngày đầu gian nan thì chắc chắn chính là nhờ gương mặt này. Những năm đầu thập kỷ ba mươi, nhờ ngoại hình nổi bật, hắn đã có thời được coi là một ngôi sao nho nhỏ, và hắn cũng đã tới Hollywood. Suốt bảy năm sau đó, hắn cứng đầu tìm cách trở thành một diễn viên điện ảnh. Rất lâu trước đó tham vọng hay ảo tưởng ấy của hắn đã tắt ngúm, nhưng vì lòng tự tôn, và có lẽ là vì lười biếng nữa, hắn vẫn nán lại California. Cuối cùng hắn chuyển sang những thứ khác, nhưng bảy năm kiên trì và thất bại ấy bằng cách nào đó đã khiến hắn không còn phù hợp với các ngành nghề và công việc kinh doanh, và khi đó đã quá muộn để bước vào một nghề nghiệp chuyên môn nào. Hắn trưởng thành chậm, và hắn đã tụt hậu, vì vậy hắn không thể giải phóng hết năng lượng của mình và hắn tin chính bản thân nguồn năng lượng ấy đã gây ra cho hắn tổn hại lớn nhất.

"Tối qua tôi không thấy cậu ở bàn gin¹," Rubin nói.

"Cháu lỡ mất. Mọi thứ thế nào ạ?"

Vài tuần trước Wilhelm bắt đầu chơi gin suốt đêm, nhưng hôm qua hắn thấy mình không thể trả nếu cứ thua thêm nữa. Hắn chẳng bao giờ thắng. Không một lần. Khoảng lỗ không ít cũng không nhiều. Nhưng cũng là thua, đúng chứ? Hắn đã quá mỏi mệt với việc thua thiệt, chán ghét cả những mối quan hệ trên sòng nên đã phá lệ đi xem phim một mình.

"Thì," Rubin nói. "Cũng bình thường. Carl như trò hề đứng la hét người khác. Lần này bác sĩ Tamkin không để gã đi. Y đã nói cho hắn biết lý do tâm lý đằng sau."

"Lý do là gì kia?"

Rubin nói, "Tôi không dẫn y nguyên ra được. Ai mà nói cho được? Cậu biết Tamkin hay nói kiểu gì mà. Đừng có hỏi tôi. Cậu lấy tờ Trib không? Cậu không định ngó thử giá chốt phiên à?"

"Đọc cũng không lợi gì. Cũng giống như lúc ba giờ hôm qua thôi," Wilhelm nói. "Nhưng tốt hơn thì cứ lấy đi." Khi muốn lấy thứ gì trong túi áo thì hắn buộc phải nhướn vai phía bên kia lên. Giữa những chiếc hộp nhỏ đựng thuốc uống, nhiều đầu lọc thuốc lá vụn và bùi nhùi những sợi ruy băng bằng giấy gương để buộc gói đựng thuốc dùng thay cho chỉ nha khoa, đột nhiên hắn nhớ rằng mình đã rơi đâu đó mất vài xu.

"Nghe không ổn chút nào," Rubin bảo. Ông ra vẻ hào hứng muốn tiếp tục câu chuyện, nhưng giọng nói dần vô sắc và đôi mắt uể oải bị lông mi phủ kín thì nhìn về một nơi khác. Ông không muốn nghe. Đối với ông thì dẫu chuyện gì đi nữa cũng như thế. Có khi đã biết rồi, ông là kiểu người cái gì cũng biết, biết tất.

Không, chuyện không ổn chút nào. Wilhelm đang nắm giữ ba lệnh mỡ lợn trên thị trường hàng hóa. Hắn và Bác sĩ Tamkin đã cùng nhau mua số mỡ này bốn ngày trước ở mức 12.96, và giá ngay lập tức bắt đầu giảm và vẫn đang tiếp tục giảm. Trong thư sáng nay, chắc chắn sẽ có một yêu cầu thanh toán ký quỹ bổ sung. Ngày nào một bức thư như vậy cũng đến.

Chính tên bác sỹ tâm thần tên Tamkin đã ấy lôi kéo hắn vào vụ này. Tamkin sống ở khách sạn Gloriana và tham gia các ván bài. Y đã giải thích với Wilhelm rằng anh ta có thể đầu cơ hàng hóa tại một trong những chi nhánh ở khu thượng lưu của một công ty phố Wall uy tín mà không cần ký quỹ đầy đủ theo quy định của pháp luật. Điều đó tùy thuộc vào quản lý chi nhánh. Nếu ông ta biết anh - và tất cả các quản lý chi nhánh đều biết Tamkin - ông ta sẽ cho phép anh mua trong ngắn hạn. Anh chỉ cần mở một tài khoản nhỏ.

"Toàn bộ bí mật của kiểu đầu tư này," Tamkin nói với hắn, "là ở sự nhanh nhạy. Cậu phải hành động thật nhanhmua rồi bán; bán rồi mua lại. Phải thật nhanh! Chạy đến cửa sổ giao dịch và bảo họ đánh điện tới Chicago vào đúng thời điểm. Tấn công và tấn công lại! Rồi thoát ra trong ngay ngày hôm đó. Chẳng mấy chốc mà cậu xoay vòng mười lăm, hai mươi ngàn đô la giá trị đậu nành, cà phê, ngô, da thuộc, lúa mì, bông." Rõ ràng là vị bác sĩ hiểu rất rõ thị trường. Bằng không thì y đã không thể khiến nó nghe có vẻ đơn giản đến thế. "Người ta thua lỗ vì họ tham lam và không chịu thoát ra khi giá bắt đầu tăng. Họ cờ bạc, còn tôi làm một cách khoa học. Đây không phải là phỏng đoán. Cậu phải chốt lời vài điểm rồi rút. Ôi, lạy Chúa!" Bác sĩ Tamkin nói với đôi mắt lồi, cái đầu hói và bờ môi rũ xuống. "Cậu đã từng dừng lại để nghĩ xem người ta đang kiếm được bao nhiêu tiền trên thị trường chưa?"

Wilhelm, chuyển nhanh từ vẻ chú ý u ám sang một tràng cười hổn hển khiến khuôn mặt hắn thay đổi hoàn toàn, đã nói, "Xời, làm sao mà chưa! Cậu nghĩ sao? Ai mà chẳng biết nó đã vượt xa mức năm 1928-29 và vẫn đang tiếp tục tăng? Ai chưa từng đọc cuộc điều tra Fulbright? Tiền ở khắp nơi. Mọi người đang cật lực xúc nó vào túi. Tiền là"

"Và cậu có thể nghỉ ngơicậu có thể ngồi yên trong khi chuyện này đang diễn ra được không?" Bác sĩ Tamkin nói. "Tôi thú thật với cậu là tôi không thể. Tôi nghĩ về những người, chỉ vì họ có vài đồng để đầu tư, mà kiếm được cả gia tài. Họ chẳng có đầu óc, chẳng có tài năng, họ chỉ có dư chút tiền và nó lại đẻ ra thêm tiền. Tôi thấy bực bội, dày vò và sốt ruột, thật là sốt ruột! Thế thì tôi còn hành nghề được gì nữa chứ. Với ngần ấy tiền bạc xung quanh, cậu không muốn trở thành thằng ngốc trong khi mọi người đều đang kiếm chác. Tôi biết những kẻ kiếm năm, mười ngàn một tuần chỉ bằng việc vớ vẩn. Tôi biết một gã ở khách sạn Pierre. Chẳng là gì cả, thế mà hắn có nguyên một thùng rượu sâm-panh Mumm để uống trong bữa trưa. Tôi biết một tên khác ở Central Park South Nhưng nói nữa thì có ích gì. Họ kiếm cả triệu. Họ có những tay luật sư láu cá giúp họ trốn thuế bằng hàng ngàn mánh khóe."

"Trong khi tớ thì bị vét sạch," Wilhelm nói. "Vợ tớ không chịu ký tờ khai thuế chung. Chỉ một năm khá khẩm thôi là tớ đã rơi vào mức thuế ba mươi hai phần trăm và bị tước đi sạch sẽ. Thế còn bao nhiêu năm tháng khốn khó của tớ thì sao?"

"Đó là chính phủ của giới doanh nhân," Bác sĩ Tamkin nói. "Cậu có thể chắc chắn rằng những kẻ kiếm năm ngàn một tuần"

"Tớ không cần loại tiền đó," Wilhelm đã nói. "Nhưng ôi! Giá mà tớ có thể tạo ra một khoản thu nhập ổn định nho nhỏ từ việc này. Không cần nhiều. Tớ không đòi hỏi nhiều. Nhưng tớ cần nó biết chừng nào! Tớ sẽ biết ơn lắm nếu cậu chỉ cho tớ cách vận hành nó."

"Tất nhiên rồi. Tớ làm việc này thường xuyên. Tớ sẽ mang biên lai cho cậu xem nếu cậu muốn. Và cậu có muốn biết một điều không? Tớ rất tán thành thái độ của cậu. Cậu muốn tránh cơn sốt tiền. Kiểu kinh doanh này chứa đầy cảm giác thù địch và tham lam. Cậu nên thấy nó ảnh hưởng thế nào đến một số gã kia. Họ bước vào thị trường với trái tim sát nhân."

"Tớ từng nghe một gã nói cái gì ấy nhỉ?" Wilhelm nhận xét. "Giá trị của một người đàn ông nằm ở thứ anh ta yêu mến."

"Đúng vậychính nó đấy," Tamkin nói. "Cậu không cần phải làm theo cách của họ. Vẫn có một cách tiếp cận bình tĩnh và hợp lý, một cách tiếp cận tâm lý."

*

Adler, bố Wilhelm, vị bác sỹ  già, dù tự mình tách biệt với thế giới của con mình cũng đã có lần ông cảnh báo con mình đừng dại mà dây vào tên bác sỹ Tamkin. Nhiều phần ung dung ông là một người đứng tuổi hết mực điềm đạm ông dặn. "Wilky, có lẽ con đã nhiều lần nghe theo lời của Tamkin. Nói chuyện với tên ấy quả là thú. Bố không ngờ vực gì thêm. Nhưng y là kẻ khiến người ta dễ đặt niềm tin lầm lối. Chính bố cũng không biết y ta bao phần đáng tin nữa."

Câu nói đã làm cho Wilhelm vô cùng đau đớn bởi thái độ nói chuyện xa cách của bố với công việc kinh doanh của bản thân mình. Bác sỹ Alder ưa thích phô bày những cung cách thật trang nhã. Trang nhã! Đứa con trai của ông, đứa con trai độc tôn quý tử này cũng không mảy may chạm đến tâm trí và làm trái tim ông lắng đọng. Tôi cũng đã chẳng nhờ đến Tamkin, hắn nghĩ, nếu tôi còn cách khác. Nhưng ít ra, gã ta còn cảm thông cho tôi và cố đỡ đần tôi, trong khi ông bố quý của mình chẳng mảy may muốn bị làm phiền.

Bác sỹ Alder không còn làm việc gì nữa, ông có một khối gia sản kếch xù và có thể vô tư mà giúp đỡ con trai mình. Lần trước, Wilhelm nói với ông. "Bố họa thay con đang trong lúc khó khăn. Con không thích phải kể lể. Bố cũng biết là con là người chỉ muốn báo toàn tin tốt thôi. Nhưng chuyện xảy đến đâu thể làm khác được. Và tại vì nó là sự thật, bố Con còn nói được điều gì nữa. Nó là sự thật."

Nếu như bố ai thì họ sẽ nhận ra con mình đã khổ sở như thế nào mới có thể thốt ra lời thú nhận ấy quá nhiều xui xẻo, kiệt quệ, tan tác và thất bại. Wilhelm đã phải sao chép giọng điệu của ông ấy để tỏ ra lịch thiệp, trầm tính và tha thiết hơn. Hắn không cho phép mình run rẩy; hắn không để một cử chỉ nào lạc hướng. Nhưng vị bác sỹ không mảy may phúc đáp. Ông chỉ gật đầu. Hẳn ông cũng chỉ phản ứng như vậy nếu người ta nói với ông rằng Seattle gần vịnh Puget Sound, hay đội Giants và Dodgers đang thi đấu một trận đêmông chẳng hề xúc động khỏi vẻ ngoài khỏe mạnh, đẹp đẽ, vui vẻ của tuổi già. Ông đối xử với con trai mình như ông đã từng đối xử với các bệnh nhân trước đây, và đó là một nỗi đau lớn đối với Wilhelm; nó gần như không thể chịu đựng nổi. Chẳng lẽ ông không nhìn thấychẳng lẽ ông không cảm nhận được? Phải chăng ông đã đánh mất tình cảm gia đình?

Bị tổn thương sâu sắc, Wilhelm vẫn cố gắng nhìn mọi thứ thật công bằng. Những người già phải thay đổi tính nết ngang tàng của mình đi thôi, hắn nói. Người già ắt cũng phải thay đổi thôi, hắn tự nhủ. Họ có những điều khó khăn phải suy nghĩ. Họ phải chuẩn bị cho nơi họ sẽ đến. Họ không thể sống theo thời khóa biểu cũ nữa và mọi quan điểm của họ thay đổi, những người khác trở nên giống nhau, người thân hay người quen. Bố không còn là con người cũ nữa, Wilhelm suy ngẫm. Ông ba mươi hai tuổi khi hắn ra, và giờ ông sắp bước sang tuổi tám mươi. Hơn nữa, đã đến lúc con phải ngừng cảm thấy mình như một đứa trẻ trước mặt ông, một đứa con trai bé nhỏ.

Vị bác sĩ già đẹp đẽ đứng cao hơn hẳn những người già khác trong khách sạn. Ông được mọi người tôn sùng. Đây là những gì người ta nói: "Đó là Giáo sư Adler già, người từng dạy nội khoa. Ông là một chuyên gia chẩn đoán, một trong những người giỏi nhất ở New York, và có một sự nghiệp lẫy lừng. Ông ấy trông chẳng phải là một cụ già tuyệt vời sao? Thật thích thú khi được thấy một nhà khoa học già xuất sắc, sạch sẽ và tinh tươm như vậy. Ông đứng thẳng và hiểu từng lời bạn nói. Ông vẫn còn minh mẫn lắm. Bạn có thể thảo luận bất cứ chủ đề gì với ông." Các nhân viên quầy, người vận hành thang máy, các cô gái điện thoại, hầu bàn và tạp vụ, ban quản lý đều tâng bốc và chiều chuộng ông. Đó là điều ông muốn. Ông vốn luôn là một người đàn ông kiêu ngạo. Thấy bố mình yêu bản thân như vậy đôi khi khiến Wilhelm phát điên lên vì phẫn nộ.

Hắn gấp tờ Tribute màu đen, nặng trịch, kiêu căng lại mà chẳng đọc được chữ nào, bởi tâm trí hắn vẫn còn nghĩ về sự khoa trương của bố mình. Ông bác sỹ đã có được lòng kính mến riêng cho mình. Đám đông đã bị dắt mũi mà không hề hay biết. Và ông ta cần được trọng vọng để làm gì? Trong một khách sạn mà ai nấy cũng đều bận rộn và những mối liên hệ quá đỗi mỏng manh và thiếu trọng lượng như thế, điều đó sao có thể thỏa mãn ông ta? Có thể ông ta đã ở trong tâm trí của những người ở đây trong chốc lát, nhưng chỉ một thoáng; vào và ra ngay. Ông ta chẳng bao giờ có ý nghĩa gì với họ. Wilhelm thở dài nặng nhọc và nhướng đôi lông mày màu nâu đậm trên đôi mắt tròn trịa lên. Hắn ngó qua những đường viền dày chữ trên tờ báo.

...cuồng say yêu những thứ lẽ ra phải từ lâu ruồng bỏ.[1]

Một ký ức ngẫu nhiên thoáng qua làm hắn nhớ tới dòng này. Lúc đầu hắn nghĩ dòng này dành cho bố, nhưng rồi hắn thấy bản thân mình thích hợp hơn nhiều. Hắn nên yêu thật cuồng say. "Những điều trông thấy đó, càng làm tình yêu người thêm mãnh liệt."[2] Nhờ bác sỹ Tamkin gợi mà Wilhelm dần nhớ ra những bài thơ mình đã từng đọc qua. Y biết, hoặc bảo rằng mình biết, những nhà thơ Anh vĩ đại và y thường nói về một bài thơ mình tự viết. Đã rất lâu rồi không còn ai nói với Wilhelm về những điều đó nữa. Hắn không thích nhớ về những năm tháng đại học, thế nhưng lớp Văn học cơ bản thật sự đã thu hút hắn. Cuốn Văn xuôi và Thơ ca Anh của Lieder và Lovett được chọn làm sách giáo khoa là một tập sách nặng đóng từ những trang giấy mỏng tanh. Mình có đọc nó không nhỉ? hắn tự hỏi mình. Vâng, hắn đã đọc và hắn có thể xem như một thành tựu để tự làm mình khoái chí khi nhớ về. Hắn đã nghêu ngao: "Thêm một lần nữa, ôi những cây nguyệt quế." Đọc lên mới thuần khiết làm sao! Thật đẹp đẽ.

Dẫu chàng đã chìm xuống mấy tầng nước…[3]

Những thứ như thế làm hắn dao động, và bấy giờ sức mạnh của thứ ngôn từ ấy càng thêm bội phần vĩ đại.

Wilhelm coi trọng sự thật, nhưng hắn có thể nói dối, và một trong những điều hắn thường nói dối là về học vấn của mình. Hắn nói mình là cựu sinh viên Đại học Penn State; thực ra hắn đã bỏ học từ giữa năm thứ hai. Chị gái Catherine của hắn có bằng Cử nhân Khoa học. Người mẹ quá cố của Wilhelm tốt nghiệp trường Bryn Mawr. Hắn là thành viên duy nhất trong gia đình không có học vị. Đó là một điểm nhức nhối khác. Bố hắn xấu hổ vì hắn.

Nhưng hắn đã từng nghe ông cụ khoe khoang với một ông già khác, rằng: "Con trai tôi là một giám đốc kinh doanh. Nó không đủ kiên nhẫn để học xong đại học. Nhưng nó cũng làm ăn khá ổn. Thu nhập của nó vào khoảng năm con số nào đó."

"Gì cơba mươi, bốn mươi ngàn ư?" người bạn già còng lưng hỏi.

"Ừ, nó cần ít nhất ngần ấy để duy trì lối sống của nó. Đúng, nó cần như vậy."

Bất chấp những rắc rối, Wilhelm suýt bật cười. Hỡi ôi, cái tên già đạo đức giả khoe khoang ấy. Ông ta biết rõ chẳng còn giám đốc kinh doanh nào nữa. Đã nhiều tuần qua không có giám đốc, không có kinh doanh, không có thu nhập. Nhưng chúng ta thích làm ra vẻ hoàn hảo trước mắt thế gian biết chừng nào–người già đẹp đẽ làm sao khi họ đang thực hiện một màn tung hỏa mù! Chính là Bố, Wilhelm nghĩ, mới là nhà buôn. Ông ta đang rao bán tôi. Lẽ ra ông ta nên đi bán hàng rong mới phải.

Nhưng sự thật thì sao? À, sự thật là có những vấn đề, và với những vấn đề đó, bố hắn không muốn dính líu. Bố hắn xấu hổ vì hắn. Sự thật, Wilhelm nghĩ, thật là lúng túng. Hắn mím chặt môi, và lưỡi hắn mềm nhũn ra; nó đau tận phía sau, ở các dây thần kinh và cổ họng, và một khối u buồn hình thành trong ngực hắn. Bố chưa bao giờ là bạn của con khi con còn nhỏ, hắn suy nghĩ. Ông ở văn phòng hoặc bệnh viện, hoặc đi giảng bài. Ông mong con tự biết lo liệu và chẳng bao giờ để tâm nhiều đến con. Giờ thì ông khinh thường con. Và có lẽ về một số mặt ông cũng đúng.

Chẳng trách Wilhelm trì hoãn khoảnh khắc phải bước vào phòng ăn. Hắn đã di chuyển đến cuối quầy của Rubin. Hắn đã mở tờ Tribune; những trang báo mới rũ xuống từ tay hắn; điếu xì gà đã tàn và chiếc mũ không che chở được hắn. Hắn đã sai khi cho rằng mình có khả năng hơn người khác trong việc che giấu rắc rối. Chúng được viết ra rõ ràng trên khuôn mặt hắn. Hắn thậm chí còn không ý thức được điều đó.

Thật phiền phức khi những cái tên khác nhau cứ chốc chốc lại vang lên trong khách sạn. "Cậu có phải là con của bác sỹ Adler không?" "Vâng, nhưng tên tôi là Tommy Wilhelm." Và ông bác sỹ sẽ đáp, "Tôi và con trai dùng tên hiệu khác nhau. Tôi giữ tên như ngày xưa. Còn nó thì đổi sang tên mới." Tommy là do Wilhelm tự sáng tạo ra. Hắn lấy cái tên đó lúc đến Hollywood và bỏ đi chữ Adler. Hollywood cũng là một ý tưởng của hắn. Hắn dụ mình tin rằng mọi chuyện vào tay tuyển trạch tài ba tên là Maurice Venice sẽ đều êm thấm. Nhưng gã ta chưa bao giờ mạnh dạn đưa hắn ra giới thiệu cho các đoàn phim. Gã đã có lần đưa hắn đến thử vai, nhưng kết quả không tốt. Sau hôm đó, Wilhelm chủ động và thúc ép Maurice Venice đến khi gã buộc miệng bật lại, "Được rồi, tôi nghĩ chuyến này sẽ ra cơm cháo đấy." Lời nói ấy thôi thúc hắn bỏ học đại học và chuyển tới California.

Có người đã nói, và Wilhelm đồng ý với câu nói đó, rằng ở Los Angeles, tất cả những thứ lỏng lẻo trong đất nước đều tập trung về, như thể nước Mỹ bị nghiêng đi và mọi thứ không được vặn chặt đều trượt xuống Nam California. Chính hắn đã từng là một trong những thứ lỏng lẻo đó. Đôi khi hắn kể với mọi người, "Tôi đã quá chín chắn để học đại học. Tôi là một chàng trai lớn, cậu thấy đấy. Chà, tôi nghĩ, khi nào thì mới bắt đầu trở thành một người đàn ông?" Sau khi đã lái một chiếc xe cà tàng sơn phết và mặc một áo mưa vàng có khẩu hiệu, và chơi bài xì phé bất hợp pháp, và đi hẹn hò với Coca-Cola, hắn đã có đại học. Hắn muốn thử điều gì đó mới và đã cãi nhau với bố mẹ về sự nghiệp của mình. Và rồi một bức thư từ Maurice Venice gửi đến.

Câu chuyện tên tuyển trạch rất dài và rối rắm, một phần thực đôi phần tưởng. Sự thật đằng sau không bao giờ được tiết lộ. Những lần đầu Wilhelm nói dối một cách rất hợm hĩnh, nhưng dần dà chính hắn cũng không còn tin tưởng vào mình nữa. Nhưng trí nhớ hắn vẫn còn tốt, hắn vẫn còn có thể phân biệt những thứ mình ngụy tạo với những thứ đã thật sự xảy ra, và sáng hôm nay lúc cầm tờ Tribune đứng cạnh quầy báo của Rubin, hắn thấy mình cần phải nhớ về những thứ điên rồ đã xảy ra.

Hồi đó mình thậm chí dường như chẳng nhận ra có một cuộc Đại khủng hoảng. Làm sao mình có thể ngốc đến mức không chuẩn bị cho bất cứ điều gì và chỉ dựa vào may mắn và cảm hứng chứ? Với đôi mắt tròn xám mở to và đôi môi đẹp đẽ khép chặt trong sự nghiêm khắc với chính mình, hắn buộc phải mở ra tất cả những gì đã bị che giấu. Bố thì mình chẳng thể tác động được. Còn Mẹ là người đã cố gắng ngăn cản mình, và chúng tôi đã cãi vã, la hét và nài nỉ. Mình càng nói dối thì càng nói to, và nhào tới – như một con hà mã. Mẹ tội nghiệp! Mình đã làm bà thất vọng biết chừng nào. Rubin nghe thấy Wilhelm thở dài đứt quãng khi hắn đứng đó với tờ Tribune bị quên lãng vò nhàu dưới cánh tay.

Thêm vào giỏ hàng thành công