IV. Người em trai
“Đây là Quốc lộ King,” người đàn ông nói.
Và rồi Eugene nhìn lại và thấy rằng đó cũng chỉ là một con phố. Có vài tòa nhà lớn mới xây, một khách sạn bề thế, mấy nhà hàng và quán nhậu đồ nướng theo kiểu hiện đại, thứ ánh sáng đơn điệu, xám xịt của đèn neon, dòng xe cộ chạy không ngớt – tất thảy những thứ này đều mới mẻ, nhưng nó cũng chỉ là một con phố. Và anh biết rằng nơi đây vốn dĩ đã luôn chỉ là một con phố, không hơn không kém – nhưng không hiểu sao – chà, anh đứng đó nhìn nó, tự hỏi xem mình còn mong đợi sẽ tìm thấy điều gì khác nữa không.
Người đàn ông cứ nhìn anh với vẻ dò hỏi trong mắt, và Eugene hỏi ông xem liệu có phải Hội chợ trước đây nằm ở mạn này không.
“Hội chợ hồi đó nằm ở phía ngoài kia cơ,” người đàn ông nói. “Ngoài chỗ bây giờ là công viên ấy. Nhưng còn con phố mà cậu đang tìm này… cậu không nhớ nổi cái tên của nó hay chút gì sao?” người đàn ông hỏi.
Eugene nói anh nghĩ tên con phố đó là Edgemont, nhưng anh không chắc chắn lắm. Dẫu sao thì nó cũng đại loại như thế. Và anh nói ngôi nhà nằm ở ngay góc của con phố đó với một con phố khác nữa.
Thế rồi người đàn ông hỏi: “Thế con phố khác đó là phố gì?”
Eugene nói anh không biết, nhưng Quốc lộ King chỉ cách đó chừng một dãy nhà, và có một tuyến xe điện liên tỉnh chạy qua nơi anh từng sống khoảng nửa dãy nhà.
“Tuyến nào cơ?” người đàn ông nói, rồi nhìn anh chằm chằm.
“Tuyến xe điện liên tỉnh ấy ạ,” Eugene nói.
Thế rồi người đàn ông lại nhìn anh chằm chằm một lần nữa, và cuối cùng, “Tôi chẳng biết tuyến tàu xe liên tỉnh nào ở đây cả,” ông ta bảo.
Eugene nói đó là một tuyến đường chạy phía sau vài ngôi nhà, và ở đó có những hàng rào ván gỗ cùng cỏ dại mọc bên cạnh đường ray. Nhưng không hiểu sao anh không thể thốt lên thành lời rằng vào những ngày ấy trời đang là mùa hạ, và người ta có thể ngửi thấy mùi thanh tà vẹt hăng nồng hương hắc ín của gỗ, rồi cảm nhận được một nỗi trống vắng mơ hồ lẩn khuất vào buổi chiều tà sau khi chuyến tàu đã rời đi. Anh chỉ nói tuyến xe điện liên tỉnh nằm ở phía sau, đâu đó giữa những khoảng sân sau của vài ngôi nhà và mấy hàng rào ván gỗ cũ kỹ, và Quốc lộ King chỉ cách đó chừng một hoặc hai dãy nhà.
Anh đã không nói rằng Quốc lộ King vào những ngày tháng đó vốn chẳng phải là một con phố, mà là một lối đường mòn uốn lượn bước ra từ phép màu của một vùng đất xa xăm và đầy ám ảnh, và dọc theo lối đi ấy, nó hòa lẫn với bài đồng dao về đứa con trai tên Tom của người thổi ổng tiêu với những chiếc bánh chữ thập nóng hổi, với tất thảy thứ ánh sáng đến rồi đi, với chuyến xuôi dòng qua bang Indiana vào buổi sớm, với mùi khói đầu máy toa xe, với Nhà ga Thống Nhất, và trên hết thảy là với những giọng nói đã thất lạc, xa xăm từ thuở nào xa lắc cứ gọi vang “Quốc lộ King.”
Anh đã không nói những điều ấy về Quốc lộ King bởi vì anh nhìn quanh mình và hiểu Quốc lộ King giờ là cái gì. Tất cả những gì anh có thể nói là con phố đó nằm gần Quốc lộ King, ngay nơi góc đường, và tuyến xe điện liên tỉnh nằm sát ngay mạn ấy. Anh nói đó là một ngôi nhà bằng đá, trước nhà có những bậc thềm đá và một vệt cỏ xanh. Anh nói anh nghĩ ngôi nhà từng có một tháp canh nhỏ ở một góc, nhưng không thể khẳng định.
Người đàn ông lại nhìn anh một lượt, rồi bảo, “Đây là Quốc lộ King, nhưng tôi chưa từng nghe thấy con phố nào giống như cậu tả cả.”
Eugene chia tay người đàn ông ấy, rồi bước tiếp cho đến khi anh tìm được nơi chốn đó. Và thế là cuối cùng anh cũng rẽ vào con phố, tìm thấy khoảng không nơi hai góc đường giao nhau, dãy nhà chen chúc, ngọn tháp canh nhỏ và những bậc thềm; anh khựng lại một lát, ngoái đầu nhìn lại, như thể con phố ấy chính là Thời gian.
Trong một khoảnh khắc, anh đứng trơ ra đó, chờ đợi – chờ một lời nói, chờ một cánh cửa mở ra, chờ đứa trẻ bước tới. Anh đã đợi, nhưng chẳng có lời nào được thốt lên; chẳng có một ai ra cả.
Thế nhưng tất thảy mọi điều vẫn y nguyên như ngày xưa, ngoại trừ việc những bậc thềm có vẻ thấp hơn, hiên nhà bớt cao hơn, vệt cỏ xanh bớt rộng hơn so với những gì anh từng nghĩ. Tất cả những phần còn lại đều đúng như anh đã biết trước rằng nó sẽ thành ra như thế. Mặt tiền bằng đá xám, cao ba tầng, với mái ngói đá góc nghiêng, phần hông nhà xây gạch đỏ trổ những ô cửa sổ, và vẫn còn đó lối vào hình vòm cũ kỹ ở chính giữa dành cho bác sĩ.
Có một cái cây ở phía trước, và một cột đèn đường; còn ở phía sau và lệch sang bên hông, cây cối rậm rạp hơn so với những gì anh tưởng. Và tất cả những đầu hồi tháp canh và cửa sổ bằng đá thạch bản đều vút lên thành những chóp nhọn, cùng hai ô cửa sổ hình vòm bằng chất đá kiên cố nơi căn phòng phía trước.
Mọi thứ mới thật mạnh mẽ, vững chãi và xấu xí làm sao – và tất cả cũng thật bền bỉ, thật tốt lành, vẹn nguyên cái cách anh từng nhớ về nó, ngoại trừ việc anh không còn ngửi thấy mùi hắc ín, cái khô khốc nóng nực và sực nức mùi keo trám của những thanh tà vẹt cũ kỹ nứt nẻ, những tấm ván của hàng rào sân sau cùng đám cỏ dại oi nồng thô ráp, và cả nỗi trống vắng vào buổi chiều tà khi chuyến tàu điện đã rời đi; không còn hai anh em sinh đôi với gương mặt sắc sảo trong bộ đồ thủy thủ, đang ra sức đạp xe ba bánh lên lên xuống xuống trước hiên nhà với những tiếng rít inh ỏi đầy giận dữ; không còn cái cảm giác của một buổi chiều hè oi bức, cùng ý niệm rằng tất thảy mọi người đều đã ra đi đến Hội chợ.
Ngoại trừ điều này ra, mọi thứ đều hoàn toàn y hệt; ngoại trừ điều này và ngoại trừ Quốc lộ Highway giờ đây đã là một con phố; ngoại trừ điều này, và ngoại trừ đứa trẻ đã không đến.
Đó là một ngày oi bức. Bóng tối đã buông xuống. Cái nóng bốc lên, treo lơ lửng và hầm hập như một chiếc chăn sũng nước ở St. Louis. Cái nóng ấy ẩm ướt, và người ta thừa biết sẽ chẳng có sự dịu bớt hay mát mẻ nào vào ban đêm. Và khi cố nghĩ về thời điểm mà cái nóng sẽ tan đi, người ta sẽ bảo: “Nó không thể kéo dài mãi được. Chắc chắn nó sẽ phải tan đi thôi,” như cách ở Mỹ người ta vẫn thường nói. Nhưng khi nói ra điều đó, chẳng một ai thực sự tin vào nó cả. Cái nóng ngấm sâu xuống và người ta hầm cập người trong đó; gương mặt của dòng người trở nên nhợt nhạt và bóng loáng mồ hôi vì sức nóng. Và trên những gương mặt ấy là cả một sự khốn khổ cam chịu, và người ta cảm thấy cái kiểu hoang vắng mà người ta vẫn thường cảm thấy vào cuối một ngày nóng nực ở một thành phố lớn tại Mỹ – khi quê nhà của một người đang ở nơi xa xôi lắm, tít tắp bên kia lục địa, và người ấy nghĩ về tất thảy khoảng cách đó, tất thảy cái nóng đó, rồi cảm thán, “Ôi Chúa ơi! Nhưng đây quả là một đất nước rộng lớn biết bao!”
Và người ấy chẳng cảm thấy gì ngoài sự trống vắng, trống vắng, và nỗi hoang vắng của nước Mỹ, sự cô đơn và buồn bã của những bầu trời cao rộng, nóng rực, và buổi chiều tà đang buông xuống khắp vùng Trung Tây, khắp vùng đất hầm hập và chìm nghỉm trong cái nóng, khắp tất thảy những thị trấn nhỏ cô quạnh, những trang trại, những cánh đồng, cái lò nung hầm cập của bang Ohio, Kansas, Iowa và Indiana vào lúc cuối ngày, và những giọng nói, buông lơi trong cái nóng, những giọng nói nơi những sân ga nhỏ, tĩnh lặng, ngẫu nhiên, không hiểu sao cứ phai nhạt dần vào khoảng không gian bao la và sự mỏi mệt của cái nóng, của khoảng cách và của những bầu trời mênh mang, sầu muộn, tối cao và kính sợ ấy.
Rồi người ấy lại nghe thấy tiếng đầu máy và bánh xe lửa, tiếng còi hú than vãn và tiếng chuông, âm thanh của sự dịch chuyển trong sân ga hầm hập, và bước đi trên phố, và bước đi trên phố, bên dưới những cụm ánh sáng chói gắt, và đi qua những con người với gương mặt chảy sệ, rồi chìm nghỉm trong nỗi hoang vắng và sự hoài nghi.
Người ấy có cảm thấy điều mà người ta cảm thấy khi quay trở lại, và biết rằng mình đáng lẽ ra không nên đến, khi nhìn thấy rằng, sau tất cả, Quốc lộ King rốt cuộc cũng chỉ là… một con phố; và St. Louis – cái tên đầy mê hoặc ấy – chỉ là một thị trấn lớn, nóng nực, tầm thường bên bờ sông, hầm hập trong cái nóng ẩm ướt, ảm đạm, cũng chẳng hẳn thuộc về miền Nam và cũng chẳng còn điều gì khác để làm cho nó khá khẩm hơn.
Trước đây mọi chuyện đã không như thế này. Anh có thể nhớ cái cách trời trở nên nóng nực, và cái nóng đã từng tuyệt vời ra sao, và anh đã từng nằm dài ngoài sân sau trên một chiếc nệm phơi đồ như thế nào, và chiếc nệm sẽ trở nên nóng và khô ráo rồi sực nức mùi một chiếc nệm nóng đượm đầy ánh nắng ra sao, và ánh mặt trời sẽ làm anh muốn ngủ như thế nào, và đôi khi, anh sẽ đi xuống dưới tầng hầm để cảm nhận cái mát mẻ ra sao, và căn hầm mang cái mùi của mọi căn hầm, một cái mùi mát lạnh, cũ kỹ, mùi của mạng nhện và những chai lọ bám đầy bụi bẩn. Và anh có thể nhớ, khi mở cánh cửa trên lầu ra, mùi của căn hầm sẽ xộc vào ta – mát lạnh, mốc meo, cũ kỹ, ẩm thấp và tăm tối – và cái ý nghĩ về căn hầm tối tăm ấy đã luôn lấp đầy anh bằng một thứ cảm giác phấn khích đến tê người, một kiểu mong đợi dâng lên từ tận ruột gan.
Anh có thể nhớ cái cách trời trở nên nóng nực vào những buổi chiều, và anh đã từng cảm thấy một nỗi trống vắng cùng niềm sầu muộn mơ hồ vào những buổi chiều như thế nào, khi tất thảy mọi người đều đã đi vắng. Ngôi nhà khi ấy có vẻ thật cô quạnh, và đôi khi anh sẽ ngồi bên trong, trên bậc thềm thứ hai của lối cầu thang giữa sảnh, rồi lắng nghe âm thanh của sự thinh lặng và của nỗi trống vắng giữa buổi trưa chiều. Anh có thể ngửi thấy mùi dầu bóng trên mặt sàn và trên những bậc thang, và nhìn thấy những cánh cửa lùa với lớp véc ni màu nâu cùng những dải rèm chuỗi hạt treo vắt ngang cửa, rồi thọc hai tay vào giữa những chuỗi hạt ấy, gom chúng lại trong vòng tay mình, để chúng va vào nhau leng keng, những tiếng xào xạc dịu nhẹ của hạt chuỗi vây bọc lấy bốn bên quanh anh. Anh có thể cảm nhận được bóng tối, sự trống vắng, bóng tối đượm mùi véc ni, và thứ ánh sáng loang lổ sắc màu bên trong ngôi nhà, xuyên qua ô kính màu của cửa sổ nơi lối cầu thang, xuyên qua những mảnh kính màu nhỏ cạnh cửa ra vào, thứ ánh sáng loang lổ cùng nỗi trống vắng, sự thinh lặng cùng mùi dầu lau sàn và niềm sầu muộn mơ hồ bên trong ngôi nhà vào một buổi trưa chiều oi bức. Và thảy những điều này dường như cũng mang một thứ sinh mệnh riêng: chúng như thể đang chăm chú đợi chờ, vừa sống động nhất lại vừa tĩnh lặng nhất.
Anh sẽ ngồi đó và lắng nghe. Anh có thể nghe thấy cô bé nhà bên cạnh đang luyện tập các bài dương cầm vào buổi chiều, và nghe thấy chuyến xe điện đang chạy qua giữa những hàng rào sân sau, cách đó nửa dãy nhà, rồi ngửi thấy cái mùi khô khốc và oi nồng của những hàng rào sân sau, mùi của đám cỏ dại thô ráp, nóng nực bên cạnh đường ray vào buổi chiều, mùi hắc ín, mùi của những thanh tà vẹt khô khốc được trét kín keo, mùi của những gờ bánh xe bằng kim loại sáng loáng đã mòn vẹt, và cảm nhận được sự cô quạnh của những khoảng sân sau vào buổi chiều cùng nỗi trống vắng khi chuyến xe đã rời đi.
Để rồi anh sẽ khao khát bóng chiều tà cùng sự trở về, khao khát vệt sáng nghiêng buông, và tiếng bước chân dọc theo con phố, khao khát hai anh em sinh đôi với gương mặt sắc sảo trong bộ đồ thủy thủ trên chiếc xe ba bánh, khao khát mùi thơm của bữa cơm tối và âm thanh của những giọng nói lại rộn ràng trong nhà, và khao khát Grover trở về từ Hội chợ.
Mọi chuyện đã từng như thế đấy khi anh bước vào con phố và tìm thấy nơi chốn ở hai góc đường giao nhau, rồi rốt cuộc đã ngoảnh lại để xem liệu thời gian có ở đó hay không. Anh đi ngang qua ngôi nhà: vài ngọn đèn đang thắp sáng, cánh cửa đang mở, và một người phụ nữ đang ngồi trên hiên nhà. Và rồi anh quay người, bước trở lại, và dừng chân trước ngôi nhà một lần nữa. Ngọn đèn nơi góc đường hắt thứ ánh sáng trống rỗng lên ngôi nhà. Anh đứng nhìn nó, và đặt một bàn chân lên bậc thềm.
Thế rồi anh nói với người phụ nữ đang ngồi trên hiên nhà: “Ngôi nhà này – xin lỗi cô – nhưng cô có thể làm ơn cho tôi biết ai đang sống trong ngôi nhà này không?”
Anh biết những lời mình nói ra thật lạ lùng và rỗng tuếch, và anh đã không nói được điều mà mình thực sự mong muốn tỏ bày. Người phụ nữ nhìn anh chằm chằm một lát, đầy hoang mang.
Thế rồi cô ta bảo: “Tôi sống ở đây. Anh tìm ai?”
Anh nói: “Kìa, tôi đang tìm…”
Và rồi anh khựng lại, bởi anh biết mình không thể bảo cho cô ấy nghe cái điều mà anh đang tìm kiếm là gì.
“Trước đây từng có một ngôi nhà…” anh nói.
Người phụ nữ bấy giờ đang nhìn anh chằm chằm đầy vẻ dò xét.
Anh nói: “Tôi nghĩ tôi từng sống ở đây.”
Cô ta không nói gì.
Một lát sau, anh lại tiếp tục: “Tôi từng sống ở đây, trong chính ngôi nhà này,” anh nói, “khi tôi còn là một cậu bé.”
Cô ấy im lặng nhìn anh, rồi bảo: “Ồ. Anh có chắc đây là ngôi nhà đó không? Anh có nhớ địa chỉ là gì không?”
“Tôi đã quên mất địa chỉ rồi,” anh nói, “nhưng nó nằm trên phố Edgemont, ngay nơi góc đường. Và tôi biết đây chính là ngôi nhà đó.”
“Đây không phải phố Edgemont,” người phụ nữ nói. "Đây là phố Bates.”
“Chà, vậy thì người ta đã đổi tên con phố rồi,” anh nói, “nhưng chính là ngôi nhà ấy. Nó chẳng hề thay đổi.”
Người phụ nữ ấy im lặng một lát, rồi gật đầu: “Phải. Họ quả thực có đổi tên con phố. Tôi nhớ khi tôi còn nhỏ, người ta gọi nó bằng một cái tên khác,” cô ấy nói. “Nhưng chuyện đó từ lâu lắm rồi. Anh sống ở đây từ khi nào?”
“Vào năm 1904.”
Cô ấy lại im lặng nhìn anh. Rồi một lúc sau: “Ồ. Đó là năm diễn ra Hội chợ Thế giới. Lúc đó anh ở đây à?”
“Vâng." Anh bấy giờ nói nhanh hơn, với vẻ tự tin hơn. "Mẹ tôi thuê ngôi nhà này và chúng tôi đã ở đây suốt bảy tháng. Và ngôi nhà này thuộc sở hữu của bác sĩ Packer,” anh nói tiếp. “Chúng tôi thuê lại từ ông ấy.”
“Phải,” người phụ nữ nói và gật đầu, “đây đúng là nhà của bác sĩ Packer. Ông ấy mất rồi, mất từ nhiều năm trước rồi. Nhưng đây đúng là nhà của Packer, không sai đâu.”
“Lối vào ở bên hông kia kìa,” anh nói, “chỗ có những bậc thềm đi lên ấy, lối đó là dành cho bệnh nhân của bác sĩ Packer. Đó là lối vào phòng khám của ông ấy.”
“Ồ,” người phụ nữ bảo, “tôi không biết đấy. Tôi cứ hay tự hỏi không biết cái đó là cái gì. Tôi chẳng biết nó dùng để làm gì nữa.”
“Căn phòng lớn dùng làm văn phòng phía trước này,” anh tiếp tục, “chính là phòng khám. Và ở đó có những cánh cửa lùa, và ngay cạnh đó là một kiểu hốc tường làm phòng đợi cho bệnh nhân của ông ấy…”
“Phải, cái hốc tường vẫn còn đó, chỉ là bây giờ tất cả đã được sửa sang lại thành một phòng lớn rồi – và tôi chưa từng biết chính xác cái hốc tường đó dùng để làm gì.”
“Và cũng có những cánh cửa lùa ở phía bên này nữa, mở ra lối hành lang – và một lối cầu thang đi lên ở phía bên này. Và ở lưng chừng lối cầu thang, ngay chỗ chiếu nghỉ, có một ô cửa sổ nhỏ bằng kính màu – và vắt ngang những cánh cửa lùa ở đây, nơi hành lang, là một kiểu tấm rèm làm bằng chuỗi hạt.”
Cô ấy gật đầu, mỉm cười. “Phải, mọi thứ vẫn y hệt như vậy – chúng tôi vẫn còn những cánh cửa lùa và ô cửa sổ kính màu nơi cầu thang. Giờ thì chẳng còn tấm rèm chuỗi hạt nào nữa đâu,” cô ấy nói, “nhưng tôi nhớ cái thời mà người ta hay dùng chúng. Tôi hiểu ý anh rồi.”
“Hồi chúng tôi ở đây,” anh nói, “chúng tôi dùng phòng khám của bác sĩ để làm phòng khách, cho đến lúc gần dọn ra, vào một hai tháng cuối cùng, chúng tôi dùng nó để làm… phòng ngủ.”
“Giờ nó là một phòng ngủ đấy,” cô ta nói. “Tôi trông nom ngôi nhà này – tôi cho thuê phòng – phòng trên lầu tất thảy đều đã được thuê hết rồi, nhưng tôi có hai người em trai và tụi nó ngủ ở căn phòng phía trước này.”
Cả hai người họ im lặng trong một khoảnh khắc, rồi Eugene nói: “Anh trai tôi trước đây cũng từng ở căn phòng đó.”
“Căn phòng phía trước sao?” người phụ nữ hỏi.
Anh trả lời: “Vâng.”
Bà ấy khựng lại một lát, rồi bảo: “Anh có muốn vào trong không? Tôi không nghĩ nó thay đổi nhiều đâu. Anh có muốn xem thử không?”
Anh cảm ơn cô và bảo rất sẵn lòng, rồi anh bước lên những bậc thềm. Cô mở cánh cửa lưới để để anh bước vào trong.
Bên trong mọi thứ vẫn y hệt như vậy – lối cầu thang, hành lang, những cánh cửa lùa, ô cửa sổ kính màu nơi cầu thang. Và tất thảy mọi điều vẫn y như thế, ngoại trừ nỗi trống vắng, thứ ánh sáng loang lổ đượm màu trống vắng của buổi xế, và đứa trẻ ngày trước từng ngồi nơi đây, chờ đợi trên những bậc thềm cầu thang.
Mọi thứ đều y hệt, ngoại trừ việc khi còn là một đứa trẻ, anh đã ngồi đó và cảm thấy mọi điều đều đang ở một cõi nào xa xăm lắm – và giờ thì anh đã biết. Anh đã ngồi đó và cảm thấy một dòng sông bao la và oi nồng ngự nơi nào đó – và giờ thì anh đã biết! Anh đã ngồi đó và tự hỏi Quốc lộ King là gì, nó bắt đầu từ đâu và kết thúc ở nơi nào – giờ thì anh đã biết! Anh đã ngồi đó và bị ám ảnh bởi cái từ “trung tâm thành phố” đầy mê hoặc! – giờ thì anh đã biết! – và bởi chuyến xe điện sau khi nó đã rời đi – và bởi tất thảy những điều đến rồi đi rồi lại đến, như những bóng mây lướt qua khu rừng, chẳng bao giờ có thể níu giữ được gì.
Và anh cảm thấy rằng nếu anh có thể ngồi lại trên những bậc thềm cầu thang đó một lần nữa, trong sự cô tịch và trống vắng của buổi trưa chiều, anh sẽ có thể tìm lại được tất thảy. Khi ấy anh sẽ có thể nhớ lại tất cả những gì mình từng nhìn thấy và từng trải qua – cái tổng thể ngắn ngủi của chính bản thân anh, vũ trụ của năm lên bốn tuổi, với tất thảy ánh sáng của Thời gian phủ rọi lên đó – cái vũ trụ vốn quá ngắn ngủi để đo lường, vậy mà lại quá xa xôi, quá vô tận để nhớ về. Khi ấy anh sẽ có thể nhìn thấy lại gương mặt nhỏ bé của chính mình soi bóng trong chiếc gương tối nơi sảnh nhà, và nhìn sâu một lần nữa vào đôi mắt nghiêm nghị của đứa trẻ mà anh đã từng, để rồi khám phá ra ở đó, trong ba năm tĩnh lặng đời mình, bản ngã, tính chính trực đơn độc của chữ “Tôi”, và biết rằng: “Đây là Ngôi nhà và đây là Ngôi nhà đang lắng nghe; đây là Nỗi trống vắng, Nỗi trống vắng vào buổi trưa chiều; và ở đây, trong Ngôi nhà này, trong Nỗi trống vắng này, chính là cốt lõi, là hạt nhân của tôi – tôi ở đây!”
Nhưng ngay khi nghĩ về điều đó, anh thừa biết rằng ngay cả khi anh có thể ngồi đây một mình và tìm lại được tất thảy, thì nó cũng sẽ biến tan ngay khi vừa nắm giữ, đúng như ngày trước nó đã từng – đầu tiên đến như những lời đồn đại mơ hồ và bao la về Hội chợ xa xôi đầy mê hoặc, rồi phai nhạt dần như bóng mây trên sườn đồi, rồi biến mất như những gương mặt trong một giấc mơ – đến, đi, rồi lại đến, được sở hữu và giữ lấy nhưng chẳng bao giờ bị bắt giữ, như những giọng nói lụi tàn giữa núi non thuở nào xa lắc – và như đôi mắt đen cùng gương mặt lặng lẽ của đứa con trai da ngăm đã mất, anh trai anh, người mà trong những nhịp điệu thần bí của cuộc sống và công việc, vẫn thường bước vào ngôi nhà này, rồi đi, rồi sau đó lại trở về.
Người phụ nữ dẫn Eugene lùi vào phía trong ngôi nhà và đi xuyên qua lối hành lang. Anh kể với cô về căn buồng để thức ăn, kể cô nghe nó từng ở đâu và chỉ tay vào nơi chốn đó, nhưng giờ đây không còn ở đó nữa. Và anh kể với cô về khoảng sân sau, và về hàng rào ván gỗ cũ kỹ bao quanh khoảnh sân. Nhưng hàng rào ván gỗ cũ kỹ đã không còn. Và anh kể cô về nhà để xe ngựa, và bảo cô nó được sơn màu đỏ. Nhưng giờ đây chỉ có một chiếc ga-ra nhỏ. Khoảng sân sau tuy vẫn còn đó, nhưng nhỏ hơn những gì anh nhớ, và giờ đây có một cái cây.
“Tôi không ngờ ở đây lại có một cái cây,” anh nói. “Tôi không nhớ là có bất kỳ cái cây nào đấy.”
“Có lẽ hồi đó nó chưa ở đây,” cô ấy bảo. “Ba mươi năm là đủ để cho một cái cây lớn rồi.”
Và rồi họ lại đi qua ngôi nhà để trở ra và khựng lại trước những cánh cửa lùa.
“Tôi có thể xem căn phòng này được không?” anh hỏi.
Cô kéo những cánh cửa lùa về phía sau. Chúng trượt mở ra một cách êm ái, cách chúng lăn bánh có vẻ ì ạch quen thuộc, hệt như ngày trước. Và rồi anh lại nhìn thấy căn phòng một lần nữa. Nó vẫn y hệt như vậy. Có một ô cửa sổ ở bên hông, hai ô cửa sổ hình vòm ở phía trước, cái hốc tường và những cánh cửa lùa, lò sưởi với những viên gạch men màu xanh thẫm loang lổ, bệ lò sưởi bằng chất gỗ sồi đen sẫm theo phong cách Mission, những cây cột chống bệ, một chiếc tủ ngăn kéo và một chiếc giường, đặt ngay chính nơi mà chiếc tủ ngăn kéo và chiếc giường từng bài trí từ thuở xa xưa.
“Có phải đây căn phòng ấy không?” người phụ nữ hỏi. “Nó chẳng hề thay đổi.”
Anh bảo cô rằng nó vẫn vẹn nguyên như thế.
“Và anh trai anh từng ngủ ở đây, nơi các em trai tôi đang ngủ sao?”
“Đây là căn phòng của anh ấy,” anh nói.
Họ im lặng. Anh quay người bước đi, và nói: "Chà, cảm ơn cô. Rất cảm ơn cô vì đã cho tôi xem."
Cô nói cô rất sẵn lòng và chuyện ấy chẳng có gì phiền hà cả. “Để khi nào anh gặp lại gia đình mình, anh có thể bảo với họ rằng cậu đã nhìn thấy ngôi nhà,” cô ấy nói. “Tôi là Bell. Anh có thể bảo với mẹ anh rằng chủ ngôi nhà giờ đây là một người tên Bell.. Và khi nào anh gặp anh trai mình, anh có thể bảo với anh ấy rằng anh đã nhìn thấy căn phòng anh ấy từng ngủ, và anh thấy nó vẫn vẹn nguyên như ngày nào.”
Anh bấy giờ mới bảo với cô ta rằng anh trai mình đã mất.
Người phụ nữ im lặng trong một khoảnh khắc. Rồi cô ta nhìn anh và hỏi:
“Cậu ấy đã mất ở đây, phải không? Trong chính căn phòng này?”
Anh bảo với bà đúng là như vậy.
“Chà, vậy thì,” cô ta nói, “tôi biết mà. Tôi chẳng biết giải thích sao nữa. Nhưng khi anh bảo với tôi anh ấy từng ở đây, tôi đã biết ngay điều đó.”
Anh không nói gì. Một lát sau người phụ nữ hỏi: “Anh ấy mất vì bệnh gì thế?”
“Thương hàn.”
Bà ấy trông có vẻ bàng hoàng và lo ngại, rồi thốt lên một cách vô thức: “Hai đứa em trai tôi…”
“Chuyện đó đã xảy ra từ lâu lắm rồi,” anh nói. “Tôi không nghĩ giờ cô cần phải lo lắng nữa đâu.”
“Ôi, tôi không có ý đó,” cô ta nói. “Chỉ là khi nghe kể có một cậu bé… anh trai anh… đã… đã… ở trong căn phòng này, nơi hai đứa em tôi đang ngủ…”
“Chà, vậy đáng ra tôi đừng nên kể với cô mới phải. Nhưng anh ấy là một cậu bé ngoan – và nếu cô biết anh ấy thì cô sẽ chẳng bận lòng chút nào đâu.”
Cô ấy không nói gì, và anh vội vàng bồi thêm: “Hơn nữa, anh ấy cũng không ở đây lâu. Đây vốn dĩ không phải là phòng anh ấy, nhưng cái đêm anh ấy quay về cùng chị gái tôi thì anh ấy đã đổ bệnh nặng quá rồi, thành thử họ cũng không chuyển anh ấy đi đâu nữa.”
“Ồ,” người phụ nữ bảo, “tôi hiểu rồi.” Và rồi: “Anh có định bảo mẹ anh rằng anh đã đến đây không?”
“Tôi không nghĩ thế.”
“Tôi… tôi tự hỏi không biết bà ấy cảm thấy thế nào về căn phòng này.”
“Tôi không biết. Mẹ tôi chưa từng nhắc về nó.”
“Ồ... Lúc đó anh ấy bao nhiêu tuổi?”
“Anh ấy mười hai tuổi.”
“Anh lúc ấy chắc hẳn còn nhỏ lắm.”
“Tôi thì chưa đầy bốn tuổi.”
“Và… anh chỉ muốn nhìn lại căn phòng thôi, phải không? Đó là lý do anh quay trở lại.”
“Vâng.”
“Chà…” – đầy mơ hồ – “tôi đoán giờ thì anh đã được nhìn thấy nó rồi.”
“Vâng, cảm ơn cô.”
“Tôi đoán anh cũng không nhớ nhiều về anh ấy đâu, phải không? Tôi không nghĩ là anh có thể nhớ được.”
“Không, không nhiều lắm.”
Năm tháng rụng rơi như những chiếc lá lìa cành: gương mặt ấy lại hiện về một lần nữa – khuôn mặt trái xoan ngăm đen mềm mại, đôi mắt đen, vết bớt mềm như quả mọng màu nâu trên cổ, mái tóc đen tơ như lông quạ, tất thảy đang cúi xuống, tiến lại gần – toàn bộ hình bóng hiện ra trước mắt anh như một hồn ma, chăm chú và hiển hiện ngay tức khắc.
“Nào nói đi con – Grover!”
“Gova.”
“Không – không phải Gova – Grover! … Nói lại đi nào!”
“Gova.”
“A… a… con có nói được đâu. Con nói là Gova mà. Grover – nào nói đi con!”
“Gova.”
“Nghe này, con nghe anh bảo sẽ thưởng cho con điều gì nếu nói đúng rồi đấy. Con có muốn đi xuống Quốc lộ King không? Con có muốn Grover đãi con ăn không? Được rồi, vậy làm đi. Nếu con nói Grover cho thật đúng, anh sẽ dắt con đến Quốc lộ Highway và đãi con ăn kem. Nào nói đúng xem nào! Grover!”
“Gova.”
“A… a, cái thằng này. Con là đứa nhóc kỳ cục nhất mà anh từng thấy đấy. Đến chữ Grover mà con cũng không nói nổi sao?”
“Gova.”
“À… à…, cái thằng này. Đồ nói ngọng, con đúng là thế mà... Chà, thôi nào, đi thôi, dẫu sao thì anh cũng sẽ đãi con vậy.”
Tất thảy mọi điều hiện về, rồi phai nhạt, và lại tiêu tán một lần nữa. Eugene quay người bước đi, anh cảm ơn người phụ nữ rồi chào từ biệt.
“Chà, vậy thì, chào anh nhé,” người phụ nữ nói, và họ bắt tay nhau. “Tôi rất vui nếu có thể cho anh xem. Tôi rất vui nếu…” Cô không nói hết câu, rốt cuộc bảo: “Chà, dẫu sao thì, chuyện ấy cũng lâu lắm rồi. Tôi đoán giờ anh sẽ thấy mọi thứ đều đã đổi thay. Quanh đây giờ người ta xây cất nhiều thứ mới – và cả mạn ngoài kia nữa, ngoài cái chỗ trước đây từng là khuôn viên Hội chợ. Tôi đoán anh sẽ thấy nó khác xưa nhiều.”
Họ chẳng còn điều gì để nói với nhau nữa. Họ chỉ đứng trơ ra đó một lát trên những bậc thềm, rồi lại bắt tay nhau một lần nữa.
“Chà, xin chào.”
Và một lần nữa anh lại đứng trên con phố, tìm thấy nơi chốn nơi hai góc đường giao nhau, và lần cuối cùng ngoảnh lại để xem Thời gian đã trôi dạt về đâu.
Và anh biết rằng mình sẽ chẳng bao giờ quay trở lại nữa, và thứ phép màu đã thất lạc kia cũng sẽ chẳng bao giờ tìm về nữa. Giờ đây tất thảy đều đã tiêu tán – con phố, cái nóng, Quốc lộ King và bài đồng dao về đứa con trai tên Tom của người thổi tiêu, tất cả hòa lẫn vào tiếng rì rầm bao la và mơ màng của Hội chợ, vào nỗi trống vắng của buổi trưa chiều, vào ngôi nhà đứng đó đợi chờ và đứa trẻ nằm đó mộng mơ. Và, bước ra từ khu rừng mê hoặc, cái bụi rậm ký ức con người, Eugene biết rằng đôi mắt đen cùng gương mặt lặng lẽ của người bạn, người anh trai mình – đứa trẻ tội nghiệp, kẻ xa lạ ở đời và kẻ lưu đày của số kiếp, kẻ lạc lối như thảy chúng ta, một con số không trong những mê cung mù lòa thuở nào xa lắc – đứa con trai đã mất ấy ra đi mãi rồi, và sẽ không bao giờ trở lại.
