III. Người chị
Eugene, em còn nhớ dáng vẻ Grover ngày trước nom thế nào không vậy? Ý chị là cái vết bớt, đôi mắt đen, làn da ô-liu ấy. Cái vết bớt thì lúc nào cũng lộ ra vì mấy chiếc áo cổ thủy thủ hở ngực mà lũ trẻ ngày đó hay mặc. Nhưng chị đoán hồi Grover mất em vẫn còn quá nhỏ… Hôm nọ chị có xem lại bức ảnh cũ ấy. Em biết bức chị đang nói đến rồi đấy – cái bức chụp mẹ, cha và tất thảy chị em chúng ta trước ngôi nhà trên phố Woodson. Em không có mặt Eugene ạ. Ảnh không có em. Lúc bức ảnh ấy được chụp em còn chưa ra đời nữa cơ mà… Em còn nhớ ngày trước em từng lồng lộn lên ra sao mỗi khi mọi người bảo em rằng em chỉ là một cái giẻ lau chén đĩa đang treo lơ lửng trên Thiên đàng vào thời điểm bức ảnh đó được chụp không?
Em là con út mà. Làm con út thì phải chịu thế thôi. Em đâu có được vào trong ảnh, phải không?... Mới hôm nọ chị vừa xem lại bức ảnh cũ đó xong. Mọi người đều ở đó. Và, Chúa ơi, tất thảy điều này rốt cuộc nghĩa là gì chứ? Ý chị là, khi em nhìn vào cái dáng vẻ của chúng ta ngày ấy – Daisy, Ben, Grover, Steve và tất cả chúng ta – và rồi cái cách mọi người hoặc qua đời, hoặc trưởng thành rồi đi xa… và rồi… hãy nhìn chúng ta bây giờ mà xem! Có bao giờ em thấy trong lòng có một cảm giác kỳ lạ không? Em biết ý chị rồi đấy – có bao giờ em thấy hoang mang mơ hồ – khi em cố gắng cắt nghĩa những chuyện này không? Em đã học đại học rồi nên phải biết câu trả lời chứ – và chị ước gì em sẽ bảo chị nếu em biết.
Chúa tôi, đôi khi nghĩ về cái dáng vẻ của chị ngày trước – những giấc mơ chị từng có. Chơi dương cầm, luyện tập bảy tiếng đồng hồ một ngày, cứ nghĩ rằng một ngày nào đó mình sẽ trở thành một nghệ sĩ dương cầm vĩ đại. Rồi học hát với dì Nell vì cảm thấy một ngày nào đó mình sẽ có sự nghiệp thính phòng lừng lẫy… Giờ em có thấy chuyện đó lạ lùng quá chừng không? Em có hình dung nổi không? Chị đây này! Hát trong một nhà hát thính phòng hoành tráng! Giờ chị muốn hỏi em đấy. Chị rất muốn biết.
Chúa tôi! Khi chị lên phố và đi bộ dọc theo con đường rồi nhìn thấy tất thảy những đứa con trai con gái nhỏ trông rất buồn cười cứ lảng vảng quanh tiệm thuốc tây – em có nghĩ đứa nào trong số đó mang những hoài bão như chúng ta ngày trước không? Em có cho rằng có bé gái trông rất buồn cười nào ở đó đang mơ tưởng về một sự nghiệp thính phòng lẫy lừng không?... Em chưa từng thấy bức ảnh đó của chúng ta bao giờ sao? Mới hôm nọ chị vừa xem nó xong. Nó được chụp trước ngôi nhà cũ dưới phố Woodson, với ba đứng đó trong chiếc áo khoác đuôi tôm, và mẹ đứng ngay bên cạnh ông – rồi cả Grover, Ben, Steve, Daisy, và chính chị nữa, chân đứa nào đứa nấy đều đặt trên chiếc xe đạp của mình. Luke, tội nghiệp thằng bé, lúc đó mới lên bốn hay lên năm gì đấy. Nó không có xe đạp như chúng ta. Nhưng nó vẫn có mặt ở đó. Và tất cả chúng ta đều ở đó bên nhau.
Chà, chị ở đấy, với đôi chân gầy giơ xương tội nghiệp và chiếc váy trắng dài, cùng hai bím tóc đuôi sam buông thõng sau lưng. Và cả những bộ quần áo trông mới buồn cười làm sao chúng ta mặc hồi đó, với mấy thứ phụ kiện rườm rà diêm dúa đính trên người. Nhưng chị đoán em không thể nhớ được. Em đã được sinh ra đâu.
Nhưng, chà, nhưng gia đình ta trông cũng bảnh bao ra phết đấy, nếu chị tự mình nhận xét như vậy. Và cả căn nhà số 86 vẹn nguyên hình hài ngày trước, với hàng hiên trước nhà, những giàn nho và những luống hoa trước cửa – và “Cô Eliza” đứng đó cạnh ba, với một chiếc dây đồng hồ găm trên eo… Chị không nên cười đâu, nhưng “Cô Eliza” – chà, hồi đó mẹ là một người phụ nữ đẹp đấy. Em có hiểu ý chị không? “Cô Eliza” là một người phụ nữ có diện mạo rất khá, và cha trong chiếc áo đuôi tôm cũng rất bảnh bao. Em có nhớ ngày trước ông thường xúng xính diện đồ vào ngày Chủ nhật không? Và chúng ta đã từng nghĩ cha bề thế đến nhường nào không? Và cái cách cha cho phép chị lấy tiền của ông ra đếm không? Và tất cả chúng ta từng nghĩ ông giàu có đến thế nào không? Và cả cái cửa tiệm nhỏ nhắn, cũ kỹ trên Quảng trường trông mới tuyệt vời làm sao trong mắt chúng ta hồi đó?...
Em có thấy chuyện đó lạ lùng quá chừng không? Kìa, chúng ta đã từng nghĩ cha là người đàn ông vĩ đại nhất thị trấn và – ôi, em không phải nói với chị đâu! EM không phải nói với chị làm gì! Ông cũng có những lỗi lầm của mình, nhưng cha là một người đàn ông tuyệt vời. Em biết ông như thế mà!
Và có Steve, Ben, Grover, Daisy, Luke, và chị xếp thành một hàng ở đó trước ngôi nhà, chân đứa nào cũng đặt trên chiếc xe đạp của mình. Và chị cứ thế nghĩ ngược về tất thảy những chuyện đó. Mọi thứ đều ùa hiện về.
Em có nhớ được chút gì về St. Louis không? Lúc đó em mới lên ba lên bốn thôi, nhưng em phải nhớ được điều gì đó chứ… Em có nhớ ngày trước em hay khóc váng lên mỗi khi chị kỳ cọ cho em không? Em đã khóc váng lên đòi Grover thế nào ấy? Tội nghiệp thằng bé, lần nào chị bỏ em vào trong bồn tắm em cũng gào gọi Grover… Nó là một đứa trẻ ngọt ngào và nó thương em hết mực – gần như chính nó đã nuôi nấng em khôn lớn.
Năm đó Grover đang làm việc tại khách sạn Inside ngoài Khuôn viên Hội chợ. Em có nhớ khách sạn Inside cũ kỹ đó không? Cái khối nhà bằng gỗ cũ kỹ đồ sộ nằm ngay bên trong Hội chợ ấy? Và cái cách chị vẫn thường dắt em đến đó để đợi Grover khi nó làm việc xong? Và cả lão Billy Pelham béo ú ở quầy báo nữa – cái cách lão luôn đưa cho em một thanh kẹo cao su ấy?
Ai nấy đều thương mến Grover hết mực. Ai cũng quý nó cả... Và Grover đã tự hào về em biết bao! Em không nhớ ngày trước nó hay đem em ra khoe thế nào sao? Cái cách nó hay dắt em đi loanh quanh rồi bắt em phải nói chuyện với Billy Pelham ấy? Và cả ông Curtis ở quầy tiếp tân nữa? Và Grover đã cố bắt em nói rồi làm cho em gọi “Grover” thế nào ấy? Mà em thì không nói được – em đâu có phát âm r được. Em cứ gọi là “Gova”. Em quên chuyện đó rồi sao? Em không nên quên chuyện đó đâu, bởi vì – hồi đó em dễ thương lắm cơ – Hô-hô-hô-hô-hô – chị chẳng biết cái nét dễ thương đó giờ bay biến đi đâu mất rồi, chứ hồi ấy em là một hiện tượng đấy.... Chị bảo em này, cậu em trai ạ, hồi đó em cũng có tiếng đấy chứ chẳng đùa đâu.
Và hôm nọ chị đã nghĩ về tất thảy những chuyện đó, khi chị ngắm nhìn bức ảnh chụp ấy. Cách chúng ta vẫn thường đến và đón Grover ở đó, cách nó dắt chúng ta đến khu trò chơi Midway. Em có nhớ khu Midway không? Lão Ăn Rắn và Bộ Xương Di Động, Người Đàn Bà Béo và trò trượt máng nước Chute-the-chute, Đường Ray Ngoạn Cảnh và Vòng Quay Mặt Trời? Em đã khóc váng lên thế nào vào cái đêm chúng ta dắt em lên Vòng Quay Mặt Trời ấy? Em đã gào khản cả cổ – chị đã cố cười trừ cho qua chuyện, nhưng chị bảo em này, chính chị lúc đó cũng khiếp phát khiếp lên được. Vào những ngày tháng đó, trò ấy là một thứ gì đó ghê gớm lắm. Và Grover đã cười nhạo chúng ta rồi bảo chúng ta rằng chẳng có gì nguy hiểm đâu… Chúa tôi! Grover bé bỏng tội nghiệp. Thằng bé lúc đó chưa đầy mười hai tuổi, nhưng nó có vẻ trưởng thành quá đỗi trong mắt chúng ta. Chị lớn hơn nó hai tuổi, vậy mà chị cứ ngỡ chuyện gì nó cũng tường tận cả.
Lúc nào với nó cũng thế. Giờ nhìn lại, đôi khi có cảm giác như chính Grover mới là người nuôi nấng chị em chúng ta khôn lớn. Nó luôn chăm nom cho chúng ta, bảo chúng ta phải làm gì, mang về cho chúng ta thứ này thứ nọ – khi thì chút kem, lúc thì mấy phong kẹo, những thứ nó tự mua bằng số tiền ít ỏi tội nghiệp kiếm được ở Khách sạn.
Chị chợt nghĩ về buổi chiều hai chị em lén trốn khỏi nhà. Mẹ lúc đó đã ra ngoài đi đâu đó. Và Grover với chị leo lên xe điện rồi xuống trung tâm thành phố. Và Chúa tôi, bọn chị đã nghĩ rằng mình đang đi đến một nơi nào đó xa xôi lắm. Vào thời ấy, bọn chị gọi đấy là một chuyến du ngoạn. Đi xe điện là chuyện gì đó to tát lắm, thậm chí đáng để viết thư kể cho người nhà nghe nữa cơ... Chị nghe nói bây giờ quanh khu đó người ta phá dỡ để xây công trình hết cả rồi.
Thế là hai chị em leo lên xe và đi suốt cả chặng đường xuống khu thương mại sầm uất ở St. Louis. Bọn chị xuống xe ở phố Washington rồi tản bộ lên xuống dọc đường. Và chị bảo em này, cậu em trai ạ, bọn chị đã nghĩ thế là xịn lắm rồi. Grover dắt chị vào một tiệm thuốc tây và đãi chị một ly soda. Rồi hai chị em đi ra ngoài và đi bộ loanh quanh thêm chút nữa, xuống tận Nhà ga Thống nhất rồi đi hẳn qua phía bên kia bờ sông. Và cả hai đứa đều sợ muốn chết trước những gì mình vừa làm, cứ tự hỏi không biết mẹ sẽ nói gì nếu mẹ phát hiện ra chuyện này.
Hai chị em cứ đứng ngoài đó cho đến khi trời bắt đầu sập tối, rồi tụi chị đi ngang qua một quán ăn bình dân – kiểu tiệm ăn cũ kỹ với mấy chiếc ghế có một bên tay vịn, và người ta ngồi trên ấy, ăn uống ngay tại quầy. Hai đứa đọc hết thảy các tấm biển để xem họ có món gì ăn và giá cả ra sao, chị đoán chẳng có món nào trên thực đơn quá mười lăm xu đâu, nhưng trong mắt hai đứa chẳng có nơi nào sang trọng nhường vậy, chấp cả nhà hàng Delmonico's luôn. Thế là hai chị em cứ đứng đấy, mũi gí sát vào tấm kính cửa sổ, ngó nghiêng vào trong. Hai đứa nhóc gầy giơ xương, cả hai đều sợ muốn chết, nhưng lại đang tận hưởng cái cảm giác phấn khích xưa giờ chưa từng có từ chuyện ấy. Em hiểu ý chị không? Và hai đứa cố hết sức hít hà mọi thứ xung quanh và nghĩ thầm sao mà tất cả đều thơm tho đến thế… Rồi Grover quay sang chị, thì thầm: “Vào đi, chị Helen. Mình vào trong đi. Ở đây đề mười, mười lăm xu món thịt heo với đậu này. Và em có tiền mà,” Grover bảo. “Em có sáu mươi xu cơ.”
Chị sợ đến mức chẳng thốt nên lời. Chị chưa bao giờ bước chân vào một nơi như thế trước đây cả. Nhưng trong đầu chị cứ nghĩ mãi, “Ôi lạy Chúa, nếu mẹ mà phát hiện ra thì sao!” Chị cảm thấy như thể hai chị em đang phạm phải một tội ác tày trời nào đó… Em lạ gì cái kiểu khi mình còn là một đứa trẻ nữa? Đó là trải nghiệm phấn khích nhất đời… Chị không thể nào cưỡng lại được. Thế là cả hai đứa bước vào, ngồi lên mấy chiếc ghế đẩu cao nghển trước quầy và gọi món thịt heo với đậu cùng một tách cà phê. Chị cho là hai đứa đã quá khiếp sợ trước những gì mình vừa làm đến mức chẳng thể thực sự thưởng thức được gì. Hai đứa chỉ biết cắm đầu ngốn ngấu cho thật nhanh, rồi nốc ực tách cà phê. Và chị chẳng biết liệu có phải do quá kích động không nữa – chị đoán thằng bé tội nghiệp lúc bước vào đó đã mang bệnh sẵn rồi mà không biết đấy thôi. Nhưng khi chị quay sang nhìn nó, mặt mũi nó đã trắng bệch như chết trôi… Và khi chị hỏi nó có chuyện gì thế, nó nhất quyết không chịu nói gì cả. Nó tự trọng lắm. Nó bảo nó không sao cả, nhưng chị có thể thấy rõ là nó đã mệt rã rời như một con chó ốm rồi... Thế là nó thanh toán. Hết thảy bốn mươi xu – chị sẽ không bao giờ quên chuyện đó cho đến tận cuối đời… Và quả nhiên, hai đứa vừa mới bước chân ra khỏi cửa – nó còn chẳng kịp tiến tới mép vỉa hè nữa – thì những gì vừa ăn đã bị nôn thốc nôn tháo ra sạch.
Và đứa nhỏ tội nghiệp vừa sợ hãi vừa xấu hổ đến tội. Và điều khiến nó sợ phát khiếp lên được không phải là việc nó bị ốm, mà là việc nó đã tiêu sạch chừng đó tiền chẳng để làm gì cả. Và mẹ sẽ phát hiện ra cho mà xem… Đứa trẻ tội nghiệp, nó cứ đứng trơ ra đó nhìn chị rồi thì thầm: “Ôi chị Helen, đừng mách mẹ nhé. Mẹ mà biết được là mẹ sẽ nổi trận lôi đình lên đấy.” Rồi hai chị em tất tả chạy về nhà, và khi về đến nơi, mặt mũi nó vẫn còn cắt không còn một giọt máu.
Mẹ đã đứng đợi hai chị em ở đó. Mẹ nhìn tụi chị – em biết cái kiểu “Cô Eliza” nhìn em mỗi khi mẹ nghĩ em vừa làm chuyện gì không phải rồi đấy. Mẹ bảo: “Kìa, hai đứa tụi con rốt cuộc là đã đi đâu thế hả?” Chị đoán mẹ đã chuẩn bị sẵn sàng để mắng tụi chị một trận lôi đình rồi. Thế rồi mẹ nhìn vào gương mặt của Grover một lượt. Mẹ chỉ cần thế là biết ngay. Mẹ bảo: “Kìa, con ơi, chuyện gì thế này không biết nữa!” Mặt mẹ lúc ấy cũng trắng bệch như một tờ giấy… Và tất cả những gì Grover nói chỉ là – “Mẹ ơi, con thấy trong người đổ bệnh rồi.”
Thằng bé mệt rã rời như một con chó ốm. Nó đổ gục xuống giường, rồi mẹ và chị cởi quần áo ra cho nó và mẹ đặt tay lên trán nó rồi bước ra ngoài hành lang – mặt mẹ lúc đó trắng bệch đến mức con có thể dùng phấn vẽ một vệt đen lên mặt mẹ được luôn ấy – và thì thầm với chị: “Chạy đi gọi bác sĩ mau lên con, người nó đang nóng như hòn than rồi.”
Và chị lao đi hớt hải trên phố, hai bím tóc đuôi sam bay lơ lửng, hướng về nhà bác sĩ Packer. Chị dắt ông ấy quay lại. Khi ông bước ra khỏi phòng của Grover, ông bảo mẹ những việc cần làm, nhưng chị chẳng biết liệu mẹ có nghe lọt tai chữ nào không nữa.
Gương mặt mẹ trắng bệch như một tờ giấy. Mẹ nhìn chị mà như nhìn xuyên qua chị vậy. Mẹ như chẳng hề nhìn thấy chị. Và ôi, Chúa tôi, chị sẽ không bao giờ quên được cái dáng vẻ ấy của mẹ, cái cách mà tim chị như ngừng đập rồi nấc nghẹn lên tận cổ họng. Lúc ấy chị cũng chỉ là một đứa nhóc gầy trơ xương mới mười bốn tuổi. Nhưng nhìn mẹ cứ như thể mẹ đang chết dần chết mòn ngay trước mắt chị vậy. Và chị biết rằng nếu có chuyện gì xảy đến với thằng bé, mẹ sẽ không bao giờ vượt qua nổi cú sốc đó cho dù mẹ có sống đến một trăm tuổi đi chăng nữa.
Mẹ tội nghiệp của chúng ta. Em biết mà, thằng bé vốn luôn là giọt máu vàng ngọc của mẹ – em biết rõ điều đó, đúng không? – chứ chẳng phải lũ chúng ta đâu! – không đời nào! Chị biết mình đang nói gì mà. Lúc nào cũng là Grover cả – mẹ lúc nào cũng nghĩ về nó nhiều hơn bất kỳ đứa nào khác trong cả lũ. Và… đứa nhỏ tội nghiệp! Nó là một đứa trẻ ngọt ngào. Chị vẫn có thể nhìn thấy nó nằm bẹp ở đó, và nhớ rõ nó đã đổ bệnh nặng đến nhường nào, và chị đã khiếp sợ biết bao! Chị chẳng biết vì sao mình lại sợ hãi đến thế. Tất cả những gì hai chị em làm chỉ là lén trốn khỏi nhà rồi bước vào một quán ăn bình dân – vậy mà chị lại cảm thấy tội lỗi về toàn bộ chuyện đó, như thể đó là lỗi của chính chị vậy.
Tất cả những điều đó đã hiện về với chị vào hôm nọ khi chị đang ngắm nhìn bức ảnh chụp ấy, và chị nghĩ, Chúa tôi, hồi đó hai chị em là hai đứa trẻ ở bên nhau, và chị chỉ lớn hơn Grover có hai tuổi, vậy mà bây giờ chị đã bốn mươi sáu tuổi rồi… Em có tin nổi không? Em có cắt nghĩa nổi không – cái cách mà chúng ta trưởng thành, thay đổi rồi đi xa ấy?... Và Chúa tôi, hồi đó Grover có vẻ trưởng thành quá đỗi trong mắt chị. Nó là một đứa trẻ trầm mặc đến thế – chị đoán đó là lý do vì sao nó nhìn có vẻ già dặn hơn cả lũ chúng ta.
Chị tự hỏi không biết Grover giờ sẽ nói gì nếu em ấy có thể nhìn thấy bức ảnh chụp đó. Tất thảy những hy vọng, ước mơ và hoài bão lớn lao của chị đều đã đổ sông đổ bể, và mọi chuyện đã lùi xa từ lâu lắm rồi, như thể nó từng xảy ra ở một thế giới khác vậy. Thế rồi tất cả lại hiện về, như thể mới vừa xảy ra ngày hôm qua… Nhiều đêm chị nằm thao thức và nghĩ về tất thảy những con người đã đến rồi đi, và làm sao mà mọi thứ đều khác xa so với những gì chúng ta từng nghĩ nó sẽ thành ra. Rồi ngày hôm sau chị bước ra ngoài đường và nhìn vào gương mặt của những người chị đi ngang qua… Nhìn họ, em có thấy lạ lẫm không? Em có nhìn thấy điều gì hoang mang trong đôi mắt người ta không, như thể tất cả bọn họ đều đang băn khoăn về một điều gì đó? Như thể họ đang tự hỏi chuyện gì đã xảy ra với mình kể từ khi họ còn là những đứa trẻ? Tự hỏi cái điều mà họ đã đánh mất là gì?... Giờ là chị nói khùng nói dại, hay em có hiểu ý chị muốn nói là gì không? Em đã học đại học rồi, Gene ạ, và chị muốn em bảo chị nếu em biết câu trả lời. Giờ nhìn họ, em có thấy như vậy không? Hồi còn là một đứa trẻ, chị chưa từng chú ý đến cái nhìn ấy trong mắt người ta – em có thấy thế không?
Chúa tôi, chị ước gì mình biết được câu trả lời cho những điều này. Chị rất muốn tìm ra xem có điều gì sai sót – điều gì đã thay đổi kể từ ngày đó – và liệu chúng ta có cùng mang cái nhìn hoang mang mơ hồ đó trong đôi mắt mình hay không. Chuyện đó có xảy đến với tất cả chúng ta, với mọi người không?… Grover và Ben, Steve, Daisy, Luke và chị – tất cả đều đứng đó trước ngôi nhà trên phố Woodson ở Altamont – chúng ta ở đó đấy, và em đang thấy cái dáng vẻ của chúng ta ngày ấy – cái cách mà tất thảy mọi điều đều biến mất. Rốt cuộc thì cái mà người ta đánh mất là cái gì chứ?
Làm sao mà chẳng có điều gì diễn ra theo cái cách chúng ta từng nghĩ nó sẽ như thế cả? Tất cả đều tiêu tán cho đến khi có cảm giác như chuyện đó chưa từng xảy ra – rằng đấy là một điều gì chúng ta từng mơ thấy ở đâu đó… Em hiểu ý chị chứ?… Có cảm giác như đấy phải là một điều gì đó chúng ta từng nghe thấy ở đâu đó – rằng nó đã xảy ra với một ai khác. Và rồi tất cả lại hiện về lần nữa.
Và đột nhiên em nhớ lại chính xác mọi chuyện đã như thế nào, và nhìn thấy lại hai đứa nhóc gầy trơ xương, sợ hãi, buồn cười đó với cái mũi gí sát vào tấm kính cửa sổ nhem nhuốc của quán ăn bình dân ấy ba mươi năm về trước. Em nhớ lại cái cảm giác lúc đó, cái mùi vị lúc đó, thậm chí cả cái mùi kỳ lạ trong căn buồng để thức ăn cũ kỹ ở ngôi nhà chúng ta sống hồi ấy. Và những bậc thềm trước hiên nhà, dáng vẻ của những căn phòng nhìn ra sao. Và cả hai đứa con trai nhỏ nhắn trong bộ đồ thủy thủ ngày trước vẫn thường đạp xe ba bánh đi qua đi lại trước hiên nhà… Và cái bớt trên cổ của Grover.... Khách sạn Inside... St. Louis và Hội chợ.
Tất cả lại hiện về như thể mới vừa xảy ra ngày hôm qua. Và rồi nó lại bay biến đi, và có vẻ xa xôi, lạ lẫm hơn cả khi nó từng xảy ra trong một giấc mơ.
