favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

Câu chuyện của Rosendo Juárez

 

Lúc đó chắc khoảng mười một giờ đêm; tôi bước vào quán rượu ngày nay đã trở thành một quán bar nằm nơi góc phố Bolívar giao với phố Venezuela. Người đàn ông, trong góc của mình, vẫy tay gọi tôi lại. Cung cách của ông ta hẳn có điều gì đó rất dứt khoát, bởi tôi lập tức chú ý. Ông ngồi ở một trong mấy cái bàn nhỏ, trước mặt là một ly trống, và không hiểu sao tôi có cảm giác ông đã ngồi đó rất lâu rồi. Ông tầm thước, không thấp cũng không cao, trông như một công nhân bình thường hoặc có lẽ tá điền. Hàng ria mỏng đã điểm bạc. Lo cho sức khỏe - như phần lớn người Buenos Aires - ông vẫn không rút khăn choàng khỏi vai. Ông mời tôi uống cùng một ly. Tôi ngồi và chúng tôi trò chuyện. Tất cả diễn ra từ những năm đầu thập niên ba mươi. Và đây là điều người đàn ông ấy kể cho tôi.

Ông không biết tôi, ngoài chút tiếng tăm đâu đó, nhưng tôi thì biết ông. Tôi là Rosendo Juárez. Ông Paredes quá cố hẳn đã kể với ông về tôi. Lão ấy khéo che mắt người ta và thích thổi phồng mọi chuyện - không phải để lừa ai đâu, mà chỉ cho vui thôi. Thôi thì, đã thấy ông với tôi chẳng có việc gì làm, tôi sẽ kể cho ông chuyện xảy ra đêm ấy, cái đêm gã Đồ Tể bị giết. Ông đã chép tất cả vào một cuốn truyện - cái đó tôi không dám bàn - nhưng tôi muốn ông biết sự thật đằng sau đống thêu dệt đó.

Có những chuyện xảy ra, và phải nhiều năm sau người ta mới bắt đầu hiểu được. Đêm hôm ấy đối với tôi thật ra đã bắt đầu từ rất lâu trước đó. Tôi lớn lên ở khu Maldonado, tít ngoài Floresta. Hồi đó Maldonado chỉ là một con mương, một thứ cống rãnh, và giờ họ đã lấp nó lại, cũng tốt thôi. Trước giờ tôi vẫn tin rằng bước tiến của thời đại chẳng ai ngăn được. Dẫu thế nào thì một người cũng sinh ra đúng nơi hắn sinh ra. Tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện phải tìm xem cha tôi là ai. Clementina Juárez - mẹ tôi - là một người đàn bà đàng hoàng, sống bằng nghề giặt thuê. Theo tôi biết thì quê bà ở Entre Ríos hoặc Uruguay; lúc nào bà cũng kể về họ hàng ở Concepción del Uruguay. Tôi lớn lên như cỏ dại. Thứ đầu tiên tôi học là cách xử lý con dao, giống như mọi người khác, bằng cách đấu kiếm bằng một que củi cháy dở. Thọc trúng người ta là để lại dấu ngay. Hồi đó bóng đá vẫn chưa cuốn bọn tôi đi - nó vẫn còn trong tay đám người Anh.

Một đêm, ở quán rượu góc phố, một thằng nhãi tên Garmendia bắt đầu chọc tức tôi, muốn kiếm chuyện gây sự. Tôi giả điếc, nhưng thằng kia - đã ngà ngà - vẫn tiếp tục. Chúng tôi bước ra ngoài. Từ ngoài vỉa hè, hắn hẩy cửa ra và nói vọng vào đám người bên trong: "Đừng lo, tao quay lại liền."

Bằng cách nào đó tôi đã cầm được con dao. Chúng tôi đi về phía con mương, bước chậm, mắt gườm gườm nhau. Hắn hơn tôi vài tuổi. Chúng tôi đã nhiều lần chơi đấu kiếm bằng với que củi và tôi có cảm giác hắn sẽ xé tôi thành từng mảnh. Tôi đi bên phải đường, hắn đi bên trái. Hắn vấp mấy cục bùn khô. Tôi chỉ cần thế: gần như không suy nghĩ chộp lấy cơ hội và rạch một đường trên mặt hắn. Chúng tôi quắp lấy nhau, có một lúc mọi chuyện đều có thể xảy ra, và cuối cùng tôi đâm được. Thế là xong Lúc sau tôi mới biết mình cũng bị một nhát, nhưng chỉ xước xoàng. Đêm ấy tôi nhận ra rằng giết người hay bị giết thật chẳng khó gì. Nước trong mương khá cạn; để câu giờ, tôi che hắn lập lờ sau một lò gạch. Rất ngu, tôi tháo lấy cái nhẫn bóng bẩy có hột đá đẹp hắn hay đeo, đeo luôn vào tay mình, chỉnh mũ cho ngay ngắn rồi quay lại quán. Tôi bước vào điềm nhiên, bảo bọn họ: "Có vẻ người quay lại là tôi."

Tôi gọi một ly rum, và nói thật, lúc đó tôi cần nó lắm. Chính khi ấy có người để ý thấy máu trên tay áo tôi.

Tôi trằn trọc trên giường xếp suốt đêm và mãi gần sáng mới chợp mắt nổi. Gần trưa hôm sau thì hai tay cảnh sát đến tìm. Mẹ tôi (cầu cho bà an nghỉ) hét ầm lên. Chúng lùa tôi đi như thể tôi là thứ tội phạm. Tôi phải chờ ở nhà giam hai đêm hai ngày. Chẳng ai đến thăm, trừ Luis Irala - một người bạn thật sự - nhưng họ cũng không cho anh ta vào.

Đến sáng ngày thứ ba, viên đội trưởng cảnh sát cho gọi tôi. Hắn ngồi trên ghế, chẳng buồn nhìn tôi, rồi bảo: "Vậy cậu là thằng đã xử lý Garmendia, phải không?"

"Tùy ông nói vậy," tôi đáp.

"Gọi tôi là 'ngài.' Và đừng giở trò khôn lỏi hay lươn lẹo. Đây là lời khai của các nhân chứng và cái nhẫn tìm thấy trong nhà cậu. Ký vào bản thú nhận này là xong."

Hắn chấm bút vào lọ mực rồi đưa cho tôi.

"Cho tôi nghĩ chút đã, thưa ngài đội trưởng," tôi nói.

"Tôi cho cậu hai mươi tư tiếng để nghĩ cho kỹ, trong nhà giam. Tôi không vội đâu. Nếu cậu không muốn hiểu phải trái thì cứ tập làm quen với cái ý nghĩ sẽ được nghỉ mát ở Las Heras một thời gian."

Như ông có thể tưởng tượng, tôi chẳng hiểu gì cả.

"Nghe đây," tay cảnh sát nói, "nếu cậu biết điều thì cùng lắm chỉ ở đây vài ngày thôi. Rồi tôi sẽ cho cậu ra. Ông Nicolás Paredes đã hứa với tôi là sẽ thu xếp ổn thỏa cho cậu."

Thực ra, tôi phải ở đến mười ngày. Rồi cuối cùng họ cũng nhớ ra tôi. Tôi ký vào tờ khai như họ muốn, và một trong hai cảnh sát đưa tôi đến nhà Paredes ở phố Cabrera.

Ngoài cột buộc ngựa, ngựa đứng đầy, còn ở lối vào và bên trong nhà, người đông hơn cả một ổ điếm. Với tôi thì trông chẳng khác gì ổ cướp. Don Nicolás, đang nhấp từng ngụm maté, rốt cuộc cũng ngó đến tôi. Như thể chẳng việc gì phải vội, ông ta bảo tôi rằng ông sẽ phái tôi ra Morón, ở đó bọn họ đang chuẩn bị bầu cử. Ông ta sẽ giới thiệu tôi với ông Laferrer để xem người này có dùng được tôi không. Ông ta có một lá thư do một thằng nhãi mặc toàn đồ đen viết, như tôi nghe được thì hắn toàn làm thơ về khu ổ chuột và rác rưởi - những thứ mà một công chúng lịch duyệt chẳng đời nào thèm đọc. Tôi cảm ơn Paredes vì ân huệ rồi đi ra. Đến góc phố thì tôi thấy tay cảnh sát không bám theo tôi nữa.

Providence biết rõ phải làm gì; mọi chuyện rốt cuộc xoay ra tốt đẹp. Cái chết của Garmendia, lúc đầu làm tôi lo lắng không ít, giờ lại mở đường cho tôi. Dĩ nhiên, luật pháp nắm tôi trong lòng bàn tay. Nếu tôi vô dụng với đảng, họ sẽ tống tôi lại nhà giam, nhưng tôi tin vào mình lắm.

Ông Laferrer cảnh cáo tôi rằng với ông ta thì tôi phải đi đứng cho thẳng thớm, và nói nếu tôi làm được thì có khi sẽ được trở thành vệ sĩ của ông ta. Tôi làm tròn những gì họ trông đợi. Ở Morón, sau đó ở khu tôi, tôi gây được lòng tin của các ông chủ. Cảnh sát và đảng tiếp tục tô vẽ tiếng tăm tôi như một tay anh chị. Tôi hóa ra cũng khá giỏi khoản thu xếp phiếu bầu trong thành phố lẫn ngoài tỉnh. Tôi sẽ không bắt ông phí thì giờ nghe chi tiết các vụ dằn mặt, nhưng chỉ cần nói thế này: thời đó bầu cử náo nhiệt ra trò. Tôi chẳng bao giờ ưa nổi bọn Radical, đến giờ chúng vẫn bám chặt lấy bộ râu ông thủ lĩnh Alem. Chẳng ai không kính nể tôi. Tôi kiếm được một người đàn bà, La Lujanera, và cả một con ngựa nâu đỏ đến là diễm lệ. Nhiều năm tôi cố học theo Moreira, tên ngoài vòng pháp luật, và tôi đoán hồi ấy hắn cũng cố bắt chước một tay gaucho nào đó. Tôi đâm ra mê bài bạc và absinthe.

Một ông già bao giờ cũng lan man, nhưng tôi sắp đến đoạn muốn ông nghe rồi. Tôi không biết đã nhắc đến Luis Irala chưa. Một kiểu bạn không phải ngày nào cũng gặp. Irala đã có tuổi. Ông ấy chưa bao giờ sợ lao động, và ông ấy thương tôi. Suốt đời ông ấy chẳng dính dáng gì tới chính trị chính em. Ông ấy làm nghề mộc. Ông ấy chưa bao giờ gây chuyện với ai và cũng không để ai gây chuyện với mình.

Một buổi sáng ông ấy đến gặp tôi và bảo: "Chắc cậu cũng nghe rồi: Casilda bỏ tôi đi. Rufino Aguilera cướp cô ấy khỏi tôi."

Tôi vốn biết gã đó quanh vùng Morón. Tôi đáp: "Phải, tôi biết hắn. Trong đám Aguilera thì hắn là đứa ít thối nát nhất."

"Thối hay không thì cũng sẽ phải tính sổ với tôi."

Tôi nghĩ một lúc rồi bảo ông ấy: "Chẳng ai cướp gì của ai cả. Nếu Casilda bỏ ông thì là vì cô ấy yêu Rufino và ông chẳng còn nghĩa lý gì với cô ấy nữa."

"Rồi người ta sẽ nói gì? Rằng tôi là thằng hèn à?"

"Tôi khuyên ông đừng để mình dính vào những thứ đồn đãi ấy, cũng đừng bận tâm về một con đàn bà chẳng còn đoái hoài gì đến ông."

"Đâu phải vì nó mà tôi lo. Đàn ông mà nghĩ về đàn bà quá năm phút thì chẳng còn là đàn ông mà là đồ ẻo lả. Casilda là thứ không có tim gan. Đêm cuối cùng ở với nhau, nó còn bảo tôi không còn trẻ."

"Có khi cô ấy nói đúng."

"Chỉ thế mà đau. Giờ tôi chỉ quan tâm thằng Rufino."

"Cẩn thận đấy. Tôi đã thấy Rufino ra tay quanh thùng phiếu Merlo. Hắn lẹ dao lắm."

"Cậu nghĩ tôi sợ à?"

"Tôi biết ông không sợ, nhưng nghĩ xem. Nếu ông giết hắn, ông sẽ bị tống vào tù; nếu hắn giết ông, ông nằm dưới ba thước đất."

"Có thể. Thế nếu cậu ở vào địa vị tôi thì cậu làm gì?"

"Tôi không biết, vì đời tôi cũng chẳng phải tấm gương gì. Tôi chỉ là thằng bị lôi vào đấm đá cho đảng để khỏi đi tù."

"Tôi thì không đấm đá cho đảng nào hết; tôi chỉ muốn thanh toán một món nợ."

"Vậy ông định đánh đổi yên ổn của mình chỉ vì một thằng đàn ông ông chẳng quen và một con đàn bà ông không còn yêu sao?"

Ông không chịu nghe hết lời tôi. Ông bỏ đi. Ngày hôm sau có tin ông đã thách Rufino trong một quán rượu ở Morón, và Rufino đã giết ông. Ông định giết, và chính ông bị giết, nhưng là một cuộc đấu công bằng, giữa hai người đàn ông. Tôi đã khuyên ông với tất cả chân thành của một người bạn, nhưng dù vậy tôi vẫn cảm thấy mình có lỗi.

Vài ngày sau lễ tang, tôi đi xem chọi gà. Tôi vốn chẳng mê trò đó, và Chủ nhật ấy, nói thật, phải cố lắm tôi mới chịu nổi. Tôi cứ nghĩ mãi không hiểu có gì mà mấy con gà phải mổ nhau đến mù mắt như thế?

Cái đêm trong câu chuyện của tôi - đêm kết thúc câu chuyện ấy - tôi nói với bọn bạn rằng sẽ ghé Blackie dự khiêu vũ. Bao nhiêu năm đã qua mà cái váy hoa người đàn bà của tôi đêm ấy vẫn còn hiện rõ. Bữa tiệc được tổ chức ở sân sau. Dĩ nhiên cũng có vài tay xỉn gây chuyện nhưng tôi trông chừng để mọi thứ diễn ra đúng như phải thế. Chưa đến mười hai giờ thì đám khách lạ xuất hiện. Một trong số đó - người ta gọi hắn là Đồ Tể, hắn chính là kẻ bị đâm chết đêm đó - mời cả bọn một lượt rượu. Lạ là hắn và tôi trông khá giống nhau. Có gì đó lạ lùng trong không khí; hắn tiến lại chỗ tôi, khen tôi hết lời. Hắn nói hắn từ khu Northside tới, ở đó hắn đã nghe vài chuyện về tôi. Tôi để mặc cho hắn nói, nhưng trong đầu đã ngấm ngầm quan sát. Hắn cũng chẳng rời chai gin, có lẽ để lấy can đảm, và cuối cùng hắn thách tôi đánh nhau. Rồi một chuyện xảy ra, chẳng hiểu là vì sao nữa. Trong cái thằng ba hoa ấy, tôi bỗng thấy chính mình, như soi gương, và điều đó khiến tôi xấu hổ. Tôi không sợ; có lẽ nếu sợ, tôi đã đánh rồi. Tôi chỉ đứng đó, như thể chẳng có gì xảy ra. Còn gã kia, mặt kề sát mặt tôi, bắt đầu gào lên cho cả bọn nghe: "Vấn đề là mày chẳng là gì ngoài một thằng hèn!"

"Có thể thế," tôi nói. "Tao không ngán bị cho là hèn. Nếu mày thấy khoái thì sao không bảo luôn rằng mày đã chửi tao là đồ con hoang, rằng tao đã để mặc cho mày nhổ nước bọt vào mặt tao. Thế nào, giờ mày đã thấy khá hơn chưa?"

La Lujanera rút con dao mà tôi vẫn giấu trong lớp lót áo gi-lê và, sôi lên vì giận, ả ấn nó vào tay tôi: "Rosendo, tôi nghĩ anh sẽ cần cái này."

Tôi để nó rơi xuống và bước ra ngoài, nhưng không vội. Bọn con trai dạt sang cho tôi đi. Chúng chết lặng. Nhưng chúng nghĩ sao thì quan trọng gì với tôi.

Để dứt khoát với cái đời ấy, tôi sang Uruguay và tìm được việc làm phu xe. Từ ngày trở lại Buenos Aires, tôi sống ở quanh đây. San Telmo xưa nay vẫn là khu tử tế.

(Anh Hoa - Nhị Linh dịch)

Thêm vào giỏ hàng thành công