Bản báo cáo của Brodie
Giữa những trang của một trong các tập Đêm A Rập của Lane (London, 1839) - bộ sách mà người bạn yêu quý Paul Keins đã tình cờ tìm được cho tôi - chúng tôi đã phát hiện ra bản thảo mà tôi sắp chép lại dưới đây. Nét chữ gọn gàng - một nghệ thuật mà máy đánh chữ đang dần làm ta lãng quên - cho thấy bản thảo này có lẽ được viết cùng thời với cuốn sách. Cuốn sách của Lane, ai cũng biết, có vô số chú thích phong phú; lề bản của tôi có không ít ghi chú, dấu hỏi, và thỉnh thoảng là các chỉnh sửa, tất cả đều được viết cùng một nét chữ của bản thảo. Ta có thể đoán rằng người chú giải này ít bị cuốn hút bởi những câu chuyện kỳ diệu của Shahrazad hơn là bởi phong tục của người Hồi giáo. Về David Brodie, D.D., người có chữ ký với nét bút bay bướm ở cuối trang cuối cùng, tôi không tìm được thông tin gì ngoài việc ông là một nhà truyền giáo người Scotland, sinh ra ở Aberdeen, từng truyền bá đức tin Kitô trước tiên tại vùng nội địa châu Phi và sau đó tại một số vùng xa xôi hẻo lánh ở Brazil - có lẽ ông được dẫn dắt đến đó nhờ thông thạo tiếng Bồ Đào Nha. Tôi không rõ ông mất ở đâu và vào lúc nào. Theo như tôi biết, bản thảo này chưa từng được xuất bản.
Dưới đây là chép lại trung thực báo cáo của ông, được soạn bằng một thứ tiếng Anh khá nhạt nhẽo, những phần bị lược bỏ chỉ gồm hai hoặc ba câu Kinh Thánh ghi ngoài lề và một đoạn đặc biệt kỳ lạ về tập tục tình dục của tộc Yahoos, mà người tín hữu Trưởng Lão đáng kính của chúng ta đã kín đáo viết bằng tiếng Latinh. Trang đầu tiên bị thiếu.
… sống ở vùng bị Người Vượn khuấy đảo là tộc "Mlch,"[1] mà tôi sẽ gọi là Yahoos để độc giả dễ hình dung bản tính thú vật của họ, và cũng bởi ngôn ngữ khô khốc của chúng hoàn toàn không có nguyên âm nên việc phiên âm chính xác hầu như là bất khả. Kể cả cả nhóm "Nr" sống xa hơn về phía nam, trong bụi gai, tổng số thành viên của bộ tộc này tôi ước đoán không vượt quá bảy trăm người. Con số đó chỉ là suy đoán, vì ngoại trừ vua, hoàng hậu và các phù thủy, tộc Yahoos không có nơi cư trú cố định mà ngủ bất cứ chỗ nào khi màn đêm buông xuống. Sốt đầm lầy và những cuộc đột kích liên miên của Người Vượn khiến số lượng Yahoos ngày một suy giảm. Chỉ có rất ít cá thể có tên riêng. Để gọi nhau, họ thường ném một nắm bùn nhỏ về phía người kia. Tôi cũng từng thấy có Yahoo, để gây sự chú ý với bạn mình, đã phóng mình xuống đất rồi lăn lộn trong bụi. Ngoại trừ trán thấp và sắc đồng đỏ lạ lùng khiến nước da đen của họ bớt đậm, về mặt thể chất họ không khác biệt đáng kể so với người "Kroo". Thức ăn của họ là trái cây, củ rễ và các loài bò sát nhỏ; họ uống sữa mèo và sữa dơi, bắt cá bằng tay. Khi ăn, họ thường trốn vào chỗ kín hoặc nhắm mắt lại. Còn mọi hoạt động thể chất khác thì họ làm công khai, giống hệt lối sống của các nhà Hoài nghi luận xưa kia… Để tiếp nhận trí tuệ của các bậc bề trên, họ ăn sống xác của các phù thủy và gia đình hoàng gia. Khi tôi khiển trách họ về tục lệ độc ác ấy, họ đưa tay chạm vào môi và bụng, có lẽ để chỉ rằng người chết cũng ăn được, hoặc - dù giả thuyết này có phần gượng ép - để tôi hiểu rằng mọi thứ ta ăn vào rốt cuộc cũng biến thành thịt người. Trong chiến tranh, họ dùng đá - được tích trữ riêng để sử dụng khi cần - cùng những bùa chú và thần ngữ. Họ hoàn toàn khỏa thân, không hề biết đến nghệ thuật may mặc hay xăm mình.
Đáng chú ý là, dù họ có ngay bên cạnh một cao nguyên rộng đầy cỏ, có suối nước trong và những hàng cây tỏa bóng mát, họ lại thích tụ tập trong các vùng đầm lầy bao quanh ngọn đồi, như thể lấy làm thích thú với cái khắc nghiệt của khí hậu nóng bức và sự ô uế. Sườn cao nguyên dốc đứng, có thể dễ dàng được tận dụng như một pháo đài tự nhiên để chống lại các cuộc tấn công của Người Vượn. Các thị tộc Scotland trong hoàn cảnh tương tự từng xây lâu đài trên đỉnh đồi; tôi đã khuyên các phù thủy nên áp dụng biện pháp phòng thủ đơn giản này, nhưng lời tôi nói chẳng có tác dụng gì. Tuy vậy, họ cũng cho phép tôi dựng một túp lều riêng trên vùng cao hơn, nơi không khí ban đêm mát mẻ hơn.
Bộ tộc này được cai trị bởi một vị vua có quyền lực tuyệt đối, nhưng tôi ngờ rằng thực sự nắm quyền là các pháp sư, những người phục vụ và cũng chính là người chọn nhà vua. Mỗi cá thể nam sinh ra đều phải trải qua một cuộc kiểm tra nghiêm ngặt; nếu mang những dấu hiệu đặc biệt nào đó - cụ thể thế nào tôi không được biết - thì sẽ được tôn làm vua. Để không bị thế giới vật chất làm xao lạc khỏi con đường minh triết, người được chọn sẽ lập tức bị thiến, bị đốt mù mắt, và bị chặt cả tay lẫn chân. Sau đó, ông ta sẽ sống suốt đời trong một hang đá gọi là Lâu đài (tiếng bản địa: Qzr), nơi chỉ có bốn pháp sư và hai nữ nô lệ được phép ra vào để chăm sóc và xức phân lên người ông ta. Khi có chiến tranh, các pháp sư sẽ đưa ông ta ra khỏi hang, trưng ra trước toàn bộ tộc để khích lệ tinh thần, rồi khiêng ông ta trên vai như người ta rước cờ hay bùa hộ mệnh, tiến thẳng vào trung tâm trận chiến. Trong những trường hợp như vậy, ông ta gần như luôn chết ngay lập tức dưới cơn mưa đá ném từ Người Vượn.
Nữ hoàng sống trong một Lâu đài khác, không được phép gặp vua. Trong thời gian tôi ở đó, bà đã tốt bụng tiếp đón tôi; bà còn trẻ, hay cười và duyên dáng trong chừng mực mà chủng tộc của bà cho phép. Những vòng tay bằng kim loại và ngà cùng các chuỗi hạt làm từ răng thú tô điểm cho sự trần truồng của bà. Bà quan sát tôi, ngửi tôi, và sau khi chạm nhẹ vào tôi bằng một ngón tay, cuối cùng đã trao thân cho tôi ngay trước toàn bộ đoàn tùy tùng. Tuy nhiên, phẩm hạnh và lòng tin của tôi không cho phép tôi nhận lấy vinh dự đó - mà bà thường chỉ ban cho các pháp sư và những kẻ săn nô lệ, phần lớn là người Hồi giáo, có đoàn lữ hành đi ngang qua vương quốc. Hai hoặc ba lần, bà dùng một chiếc trâm vàng đâm vào người tôi; những cú châm như vậy là dấu hiệu của ân sủng hoàng gia. Trong bộ tộc có không ít Yahoo tự đâm mình bằng trâm để khiến người khác tin rằng chính nữ hoàng đã ra tay với họ. Những món trang sức mà bà đeo, như tôi vừa tả, đều đến từ những vùng đất khác. Vì không có khả năng chế tác dù chỉ những vật dụng đơn giản nhất, người Yahoos xem chúng như sản vật tự nhiên. Họ coi túp lều của tôi là một cái cây, dù nhiều người trong số họ đã tận mắt thấy tôi dựng nó lên và thậm chí còn giúp sức. Trong nhiều đồ vật mà tôi mang theo có một đồng hồ bỏ túi, một mũ bảo hộ bằng nút bần, một la bàn hàng hải và một quyển Kinh Thánh. Người Yahoos chăm chú quan sát chúng, cầm lên cân nhắc và hỏi tôi đã kiếm được từ đâu. Họ thường cầm lấy thanh gươm của tôi không phải bằng chuôi mà bằng lưỡi, có lẽ vì nhìn nó theo cách riêng của họ, và tôi tự hỏi liệu họ có đủ khả năng nhận biết một cái ghế hay không. Một ngôi nhà có nhiều phòng chắc hẳn sẽ hiện ra với họ như một mê cung, mặc dù có thể họ vẫn lần mò tìm được đường đi như một con mèo, dù rằng con mèo không hề hình dung ra toàn thể ngôi nhà. Bộ râu đỏ của tôi, lúc đó vẫn còn, khiến cả bộ tộc sửng sốt, và họ thường vuốt ve nó với sự trìu mến thấy rõ.
Người Yahoos hoàn toàn dửng dưng trước đau đớn và khoái lạc, ngoại trừ khoái cảm mà họ tìm thấy nơi thịt sống, thịt ôi và những thứ bốc mùi kinh tởm. Sự thiếu vắng hoàn toàn của trí tưởng tượng khiến họ trở nên tàn nhẫn.
Tôi đã nói về nữ hoàng và vua; giờ tôi sẽ nói đến các pháp sư. Tôi đã ghi lại rằng họ gồm bốn người, con số này là mức cao nhất mà số học của họ có thể vươn tới. Họ đếm ngón tay như sau: một, hai, ba, bốn, nhiều. Vô hạn bắt đầu từ ngón cái. Tôi được biết rằng hiện tượng tương tự cũng có ở các bộ lạc da đỏ lang thang gần Buenos Aires trên lục địa Nam Mỹ. Dù bốn là con số lớn nhất trong khả năng của họ, những người Ả Rập buôn bán với họ không hề gian lận, vì trong việc trao đổi hàng hóa, mọi thứ đều được chia thành nhóm - mỗi lái buôn chất thành đống bên cạnh mình - gồm một, hai, ba và bốn đơn vị. Những cuộc trao đổi như vậy rất nặng nề, nhưng không cho phép sai sót hay gian trá. Trong toàn thể tộc Yahoos, các pháp sư là những người duy nhất khiến tôi quan tâm. Người trong tộc tin rằng họ có khả năng biến bất cứ ai thành kiến hay thành rùa; một người, nhận thấy tôi hoài nghi, đã chỉ cho tôi xem một ụ kiến, như thể đó là một bằng chứng hiển nhiên.
Trí nhớ của Yahoos vô cùng kém cỏi, hoặc có lẽ hoàn toàn không tồn tại. Họ kể về một cuộc tàn phá do báo gây ra, nhưng không biết người chứng kiến là chính họ hay cha ông họ, thậm chí cũng chẳng rõ đó là ký ức thực hay một giấc mơ. Các pháp sư thì có biểu hiện của trí nhớ, dù ở mức độ hạn chế; họ có thể nhớ lại vào buổi tối những gì đã xảy ra vào sáng hôm đó hoặc tối hôm trước. Họ cũng được cho là có khả năng tiên tri và có thể nói một cách bình thản điều sẽ xảy ra trong mười hay mười lăm phút tới. Họ nói, chẳng hạn: "Một con ruồi sắp đậu lên gáy ta" hoặc "Chút nữa ta sẽ nghe thấy tiếng chim hót." Tôi đã chứng kiến tài năng kỳ lạ này hàng trăm lần và cũng đã suy ngẫm rất lâu về nó. Vì biết rằng quá khứ, hiện tại và tương lai đều tồn tại, chi tiết này nối tiếp chi tiết kia, trong trí nhớ tiên tri của Thượng Đế, trong cõi Vĩnh Hằng của Ngài, điều khiến tôi bối rối là con người, dù có thể nhìn lại quá khứ xa vô tận, lại không được phép nhìn về phía trước dù chỉ một chút. Nếu tôi có thể nhớ rất sống động con thuyền bốn cột khổng lồ của Na Uy mà tôi thấy khi mới bốn tuổi thì tại sao tôi lại lấy làm lạ khi có người có thể dự cảm điều sắp xảy ra? Với triết gia, trí nhớ cũng kỳ diệu không kém khả năng tiên tri; buổi sáng ngày mai gần ta hơn nhiều so với cuộc vượt Biển Đỏ của người Do Thái xưa, thế mà ta vẫn còn nhớ được chuyện ấy.
Người trong bộ tộc bị cấm ngước mắt nhìn các vì sao - đặc quyền chỉ dành cho các pháp sư. Mỗi pháp sư có một đệ tử, được truyền dạy từ nhỏ những tri thức bí truyền và sẽ kế nhiệm thầy mình sau khi thầy qua đời. Theo cách ấy, số lượng pháp sư luôn là bốn - con số ma thuật, vì đó là mức cao nhất mà trí tuệ của người Yahoo có thể vươn tới. Họ tin vào thiên đường và địa ngục, theo cách riêng của mình. Cả hai đều nằm dưới lòng đất. Địa ngục - chốn khô ráo và tràn ngập ánh sáng - là chỗ của người bệnh, người già yếu, những kẻ bị hành hạ, Người Vượn, người Ả Rập và loài báo. Thiên đường - được tả là lầy lội và phủ mây mù - là nơi cư ngụ của vua và hoàng hậu, các pháp sư, và những ai sung sướng, tàn nhẫn và khát máu khi còn sống. Họ còn thờ một vị thần tên là "Phân" và có lẽ đã tạo ra hình ảnh của vị thần này theo hình hài nhà vua: một sinh thể mù lòa, què quặt, dị dạng, nhưng sở hữu quyền năng vô hạn. Thần Phân thường hóa thân thành kiến hoặc rắn.
Sau những ghi chép vừa rồi, hẳn không ai lấy làm lạ khi biết rằng suốt thời gian dài sống giữa họ, tôi đã không cải đạo nổi một Yahoo nào. Mấy chữ "Lạy Cha chúng con" đủ khiến họ bối rối, vì họ hoàn toàn không có khái niệm về tình phụ tử. Có vẻ như họ không thể nào chấp nhận một nguyên nhân vừa xa vời vừa khó tin như vậy, và do đó không thể hiểu được rằng một hành động diễn ra vài tháng trước lại có thể liên quan đến sự ra đời của một đứa trẻ. Hơn nữa, tất cả phụ nữ trong bộ tộc đều có quan hệ xác thịt, nhưng không phải ai trong số họ cũng trở thành mẹ.
Ngôn ngữ của Yahoos rất phức tạp và không có điểm tương đồng với bất cứ ngôn ngữ nào mà tôi từng biết. Thậm chí không thể nói đến từ loại, vì trong tiếng của họ không tồn tại các thành phần như vậy. Mỗi từ đơn âm tương ứng với một ý tổng quát, còn ý nghĩa cụ thể thì tùy vào ngữ cảnh hoặc vào các biểu cảm trên gương mặt. Chẳng hạn, từ "nrz" gợi đến sự phân tán hoặc lốm đốm, có thể chỉ bầu trời đầy sao, một con báo, một đàn chim, bệnh đậu mùa, thứ gì đó bị vấy bẩn, hành động rắc vung, hoặc cuộc tháo chạy sau một trận chiến bại. Ngược lại, "hrl" có nghĩa là đặc, rắn, dày. Nó có thể chỉ cả bộ tộc, một thân cây, một hòn đá, một đống đá, hành động chất đá thành đống, cuộc tụ họp của bốn pháp sư, hành vi giao hợp, hoặc một cánh rừng. Phát âm khác đi hoặc biểu cảm khác, mỗi từ có thể mang ý nghĩa ngược lại. Điều này không nên khiến ta quá kinh ngạc; ngay trong ngôn ngữ của chúng ta, động từ "to cleave" cũng vừa có nghĩa là "chia cắt", vừa có nghĩa là "gắn bó". Tất nhiên, ngôn ngữ của người Yahoos không tồn tại câu hoàn chỉnh, thậm chí cả cụm từ ngắn cũng không.
Năng lực trí tuệ cần thiết để hình thành các khái niệm trừu tượng mà ngôn ngữ của Yahoos đòi hỏi đã khiến tôi tin rằng, dù lạc hậu đến đâu, họ cũng không phải là một dân tộc nguyên thủy mà là một dân tộc đã suy đồi. Giả thuyết này được củng cố bởi những dòng ký tự tôi phát hiện trên đỉnh cao nguyên - những ký tự có nét tương đồng với văn tự rune từng được tổ tiên chúng ta khắc trên đá - mà giờ người trong bộ tộc không còn đủ khả năng giải mã. Cứ như thể họ đã đánh mất ngôn ngữ viết, và giờ chỉ còn lại lời nói.
Trò tiêu khiển của tộc này là các cuộc đấu giữa những con mèo đã được huấn luyện và các cuộc hành quyết công khai. Một người nào đó sẽ bị cáo buộc là xâm phạm tiết hạnh của nữ hoàng, hoặc đơn giản là đã ăn uống trước mặt người khác; không cần nhân chứng hay lời thú tội, vua sẽ tuyên án có tội. Kẻ bị kết án sẽ phải chịu đựng những cực hình mà tôi sẽ cố gắng quên đi, rồi bị ném đá đến chết. Nữ hoàng có đặc quyền ném hòn đá đầu tiên và thường là cả hòn cuối cùng, điều hiếm khi cần thiết. Đám đông sẽ tán thưởng sự khéo léo và vẻ đẹp của bà, rồi trong cơn cuồng loạn, tung hoa hồng và những thứ hôi hám vào người bà để tán tụng. Nữ hoàng, không nói một lời, chỉ mỉm cười.
Một tập tục khác của họ là chuyện phát hiện ra thi sĩ. Một người có thể đột nhiên nghĩ ra sáu hay bảy từ, thường là những từ bí ẩn. Anh ta không kiềm chế nổi và gào chúng lên, đứng giữa vòng tròn do các pháp sư và dân chúng nằm phủ phục trên mặt đất tạo thành. Nếu bài thơ không khiến người nghe xúc động thì không có chuyện gì xảy ra. Nhưng nếu lời của thi sĩ đánh trúng họ, tất cả sẽ lặng lẽ tản ra khỏi anh ta, dưới mệnh lệnh của một nỗi kinh sợ thiêng liêng. Từ khoảnh khắc đó, anh ta không còn là một con người nữa mà là một vị thần - và bất kỳ ai cũng có quyền giết anh ta. Nếu còn giữ được lý trí, nhà thơ sẽ lập tức chạy về hướng những đụn cát phương Bắc để lánh nạn.
Trước đây tôi đã kể về cách mình đến được vùng đất này. Chỉ cần nhớ rằng bọn họ đã vây quanh tôi, tôi nổ súng chỉ thiên, và họ tưởng tiếng nổ ấy là một loại sấm sét thần kỳ. Để củng cố cho ngộ nhận đó, về sau tôi cố gắng đi lại mà không mang theo vũ khí. Một buổi sáng mùa xuân, lúc hừng đông, đám Người Vượn bất ngờ tràn đến; tôi lập tức từ vùng cao đổ xuống, súng cầm tay, và bắn chết hai con. Bọn còn lại bỏ chạy trong kinh hoảng. Người ta vẫn biết rằng đạn thì vô hình. Lần đầu tiên trong đời, tôi nghe thấy tiếng reo hò vang lên vì mình. Có lẽ chính vào lúc đó, nữ hoàng đã tiếp đón tôi. Nhưng như tôi từng đề cập, trí nhớ của Yahoos rất kém, nên ngay chiều hôm ấy, tôi đã tranh thủ cơ hội để trốn thoát. Những cuộc phiêu lưu của tôi trong rừng rậm sau đó không có gì đáng kể. Sau một thời gian, tôi đến được một ngôi làng của người da đen, những người biết cày ruộng, gieo hạt và cầu nguyện. Tôi có thể giao tiếp với họ bằng tiếng Bồ Đào Nha. Một nhà truyền giáo Công giáo, cha Fernandes, đã mời tôi về ở trong túp lều của ông và chăm sóc tôi cho đến khi tôi có thể tiếp tục hành trình gian nan của mình. Ban đầu tôi cảm thấy ghê tởm khi thấy ông mở miệng, không chút giấu giếm, để đưa thức ăn vào. Tôi vẫn lấy tay che miệng hoặc quay đi nơi khác; nhưng chỉ vài ngày sau, tôi đã quen lại. Tôi vẫn nhớ rõ niềm vui khi được tranh luận thần học cùng ông, dù không thể thuyết phục ông cải đạo sang đức tin chân chính của Chúa Giêsu.
Tôi viết lại bản tường trình này ở Glasgow. Tôi đã kể về chuyến đi đến vùng đất của Yahoos, nhưng chưa nói đến nỗi kinh hoàng cốt lõi của kinh nghiệm ấy - chưa bao giờ nguôi và vẫn thường trở lại trongmơ. Đôi khi trên phố, tôi vẫn có cảm giác rằng họ đang vây quanh mình. Tôi biết quá rõ Yahoos là một tộc người man rợ, có lẽ là man rợ nhất còn tồn tại trên mặt đất; thế nhưng sẽ là bất công nếu ta không ghi nhận một vài đặc điểm cứu chuộc nơi họ. Họ có các thiết chế riêng; họ có vua; ngôn ngữ của họ dựa trên các khái niệm trừu tượng; họ tin, giống như người Do Thái và người Hy Lạp xưa, vào bản tính thần thánh của thơ; và họ cũng cho rằng linh hồn vẫn tiếp tục tồn tại sau thân xác. Họ cũng tin vào thưởng và phạt. Theo cách riêng của mình, họ đại diện cho văn minh, không khác gì chúng ta - dù rằng chúng ta cũng không thiếu lỗi lầm. Tôi không hề hối hận vì đã cùng họ chiến đấu chống lại Người Vượn. Không chỉ vì ta có nghĩa vụ phải cứu rỗi linh hồn họ, mà còn vì tôi khẩn nguyện chính phủ của Bệ Hạ sẽ không bỏ qua những điều mà bản báo cáo này mạo muội đề xuất.
Anh Hoa dịch
