favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

Phần thứ tư - Chương II (II)

II

 

Liêm đặt chiếc va-ly lớn xuống đất, quay vào trong một lần nữa nói với mẹ Hải: Cháu đi; bà cụ vẫn đứng nơi góc phản nhìn theo, Hải tránh mặt bỏ đi từ sáng sớm; buổi sáng khi Liêm báo cho Hải biết sẽ đến ở nhà ông Phạm, Hải cau mày tỏ vẻ giận dỗi vì không hề được biết trước ý định của Liêm; Buổi sáng ồn ào ngoài ngõ đã lắng dịu, bọn trẻ con trốn nắng đã ra tụ tập ngoài sân chùa quanh mấy gốc đa. Mẹ Hải đưa chân Liêm ra khỏi sân nhà, đứng lại bên bờ vũng rau muống dặn nếu còn ở Hà-nội ngày nghỉ xuống chơi. Liêm cũng nhắc bà về chiếc va-ly nhỏ để lại cho Hải dùng, yêu cầu bà ngăn Hải không cho mang trả mình. “Bác bảo Hải, là kỷ niệm của cháu gửi cho Hải. Cháu đựng một va-ly quá thừa”. Quần áo, đồ vật ngày ở Sài-gòn ra không hiểu có những gì mà chứa đầy hai va-ly, Liêm không nhớ nổi.

Liêm đi chậm chạp trong ngõ, nhìn vào trong các gian nhà lụp xụp vắng vẻ. Bãi đất trước chùa ngút nắng, trong sân chùa đoàn sói họp bọn dưới gốc đa đang ca hát, lũ trẻ nghèo đứng ngoài xem. Liêm phải đi bộ thêm một đoạn phố nhiều cây rợp trước nghĩa trang ra phố Huế đón tàu điện. Trong túi Liêm còn hơn hai trăm bạc, không hiểu ông Phạm sẽ trả giá công việc như thế nào; nhớ lại lần gặp trước, có lẽ ông muốn coi Liêm như người nhà, cho ăn ở, trông nom việc thu dọn và sẽ đi tàu biển theo đồ gửi, Liêm nghĩ: thế nào cũng được, miễn vào đến Sài-gòn là xong, ở đó sẽ tính lại, làm lại cuộc đời. Trên chuyến tàu điện từ Bạch-mai vào, Liêm đứng lẫn ở toa sau giữa những người nhà quê buôn bán quanh quẩn mấy chợ ngoại ô nghe họ bàn tán về tình hình biến chuyển, mọi người đều hi vọng chiến tranh chấm dứt tưởng tượng cảnh thái bình trong những ngày tới, đó là những ngày của một thời đã qua rất xa trong trí tưởng tượng mọi người. Một người đàn ông ăn mặc xuềnh soàng kiểu một tư chức, áo sơ-mi ngắn tay, quần nhầu nát, chân đi dép cao su, tự nhiên xen lời nói bâng quơ với người bên cạnh: “Không có đánh nhau chưa chắc đã là yên đâu bà ơi”. Câu nói của người đàn ông chêm vào khiến mọi người yên lặng vài giây, rồi ồn lên cãi vã, Liêm tưởng như không bao giờ dứt, về những chuyện đấu tố, dân công, đói kém, nghèo khổ... người nói có, kẻ bảo không, không ai chịu ai. Đột nhiên ở giữa toa, truyền đơn được ném ra làm nhốn nháo cả toa, một người thanh niên len qua mặt Liêm nhảy xuống đường, tàu đang chạy giữa phố Đồng Khánh, suýt bị người đi xe đạp, anh ta nhảy ba bước vào hè dưới mái hiên Godard lẫn trong đám đông dạo phố và đi thong dong nhàn tản. Liêm còn ngoái cổ nhìn theo mãi người thanh niên ném truyền đơn cho đến khi khuất dạng trong đường phố náo nhiệt ngày chủ nhật, nhớ tưởng lại những ngày đầu hoạt động ở Sài-gòn với cái thú mạo hiểm lâu không được hưởng. Truyền đơn tố cáo những âm mưu quốc tế chia đôi lãnh thổ, kêu gọi dân chúng sẵn sàng chiến đấu cho nền độc lập và toàn vẹn của đất nước, không thấy ký tên.

Bờ Hồ nườm nượp người, một vài gia đình từ vùng quê lên ngồi xệp trên đất với gồng gánh lơ láo, trẻ con thả rong chạy theo xin tiền người qua lại. Thành phố bắt đầu mở ngỏ, những trạm tiếp đón ở các ngôi trường nghỉ hè không đủ sức chứa dân chạy loạn. Liêm xuống tàu điện, đi bộ vào hàng Bông, theo sau một người đàn bà gánh hai đứa con nhỏ trong cái thúng nhìn ngơ ngác vào trong các nhà như tìm kiếm người quen. Thỉnh thoảng một vài người qua đường, ngồi sau cái tủ hàng liếc nhìn làm như không chú ý, Liêm nhận rõ mình cũng được nhìn bằng tia mắt tương tự. Trước cửa nhà ông Phạm, một đám người tụ tập huyên náo ngoài vỉa hè, người ta tranh giành mua những đống sách báo cũ; ông Phạm đứng chấn cửa trông cho mấy đứa con bán. Thấy Liêm, ông bảo: “Chú đến đấy à? Cất va-ly, giúp tôi một tay”. Liêm len qua hai người đàn bà đang mà cả, bước qua những chồng sách mang va-ly vào trong. Gian nhà hầm nơi làm việc của ông Phạm trống trải, mấy gia đình dưới quê lên tạm trú không còn đấy; bàn giấy bỏ không, những hộp chữ đã đóng thùng, chỉ có chiếc máy in mới tháo rời một vài bộ phận xếp dọc theo chân tường. Liêm trở ra, theo lời ông Phạm, lên nhà trên khuân những quyển sách đóng bìa da hẳn hoi được lấy từ trong tủ sách của ông xuống, tủ sách của ông phải đến hai ba trăm quyển ông chỉ giữ lại mươi lăm bộ không bán. Liêm nghĩ bụng vài mươi năm của đời ông chưa đọc hết số sách, chắc chắn có những quyển chưa giở đến lần nào. Lom khom một lúc để truyền sách cho người mua, Liêm hơi chóng mặt, phải đứng thẳng lên và bắt gặp trong đám người vây quanh bên ngoài nét mặt quen thuộc đã lâu ngày, nét mặt gặp một lần nhưng không thể nào quên được: đó là anh chàng thanh niên đã gặp dưới Hải-phòng tối ba mươi Tết ngày mới ở Sài-gòn ra. Không thể lầm được, anh chàng già còm thiểu não hơn, nhưng Liêm không thể lầm được; anh kiễng chân qua vai người đứng trước nhìn xuống đám sách bừa bãi trên đất cố gắng đọc những hàng tựa ở gáy chữ mạ đã xỉn cũ. Liêm đợi cho anh chàng ngửng lên, mỉm cười muốn nhắc nhở, nhưng anh mải nhìn ông Phạm không thấy, rồi lại cúi xuống. Lần thứ hai anh chàng nhận được Liêm cười với anh, anh nhe răng cười đáp một cách ngượng nghịu xong ngoảnh mặt dòm xung quanh, Liêm muốn gọi nhưng không nhớ được tên anh ta. Liêm lại cúi xuống cố lục lọi trí nhớ, mỗi lần truyền sách ra ngoài Liêm lại đưa mắt trông chừng xem anh chàng có nhớ được ra mình không; anh ta vẫn đứng im một chỗ hỏi mượn những người đã mua một vài quyển lật giở xem, thỉnh thoảng cũng nhìn vào chỗ Liêm. Đêm giao thừa ấy, anh chàng đã uống rượu say, nôn mửa ngồi ôm mặt khóc một mình, anh ta không nhớ được gì, lúc Liêm bỏ ra ga hãy còn nằm xanh xám như xác chết; Liêm có muốn gợi lại kỷ niệm anh ta cũng sẽ đến ngơ ngác thôi. Cái người mà anh đã gặp đối với anh chỉ là cái bóng tình cờ không mặt mũi trong đêm cuối năm buốt giá. Anh ta đã nói những gì? Hình như tôi đã từ chối không nghe tâm sự của người lạ mặt.

Liêm nhìn theo mắt của người thanh niên, nhặt quyển sách dưới chân cầm lên tay, cười hỏi ý và chìa đưa cho anh bảo: “Anh xem đi”. Anh chàng ngửng nhìn Liêm đỡ lấy quyển sách, ông Phạm và hai đứa con ông bận đếm sách tính tiền không chú ý. Liêm chăm chú theo rõi, anh chàng quay ngang mình như tránh sự thúc ép của hai người đứng cạnh đưa quyển sách đã giở lên cao, liếc nhanh về phía Liêm. Liêm cười một lần nữa hy vọng anh sắp sửa nhận ra người quen nhưng anh lại cúi mắt vào trang sách. Không biết vô tình hay hữu ý, anh thụt lui mấy bước đứng tách ra ngoài giữa vỉa hè, tay vẫn lật sách đọc. Một chốc Liêm thấy anh chàng kiễng gót nhưng không rời chỗ đứng nhìn vào, rồi quay người đi kẹp quyển sách bên nách rảo bước. Liêm nghiêng đầu trông theo phía sau lưng, chiếc áo nhăn nhúm vàng khè tuột một khúc lòng thòng ra ngoài quần, đỏ bừng mặt ngượng nghịu như chính mình đã lấy quyển sách. Một người đàn bà đứng ngoài nhanh nhẩu mách: “Kìa, cái anh kia lấy sách của ông”. Liêm tảng lờ như không nghe, nhưng hai đứa con ông Phạm đã hỏi lớn: “Đâu? Đâu? Ai lấy?” Mọi người đều quay nhìn ra ngoài, Liêm nhanh chân chạy ra ngoài hè nhìn lên phía hàng Bông nhưng đã không còn thấy bóng dáng anh chàng thanh niên. Liêm nói át sự lúng túng của mình: “Có lẽ là quyển sách tôi đưa cho anh ta xem”. Một đứa con trai ông Phạm chưa chịu buông tha: “Có lẽ nó rẽ vào ngõ Hội-vũ” và chạy đuổi theo. Ông Phạm bảo: “Thôi tạm nghỉ sửa soạn ăn cơm. Chiều bán nốt”. Đứa con trai trở về hậm hực vì không bắt được tên kẻ cắp, ông Phạm nói với nó: “Thôi mất một quyển ăn thua gì”. Mấy người mua sách quẩy gánh đi tản mác trong khi một mình Liêm khuân đống sách chưa bán vào trong nhà, Liêm nghĩ: anh chàng trông ngù ngờ mà chạy thật nhanh. Không hiểu anh ta lấy được quyển gì, Liêm không kịp đọc nhan đề lúc đưa cho anh, quyển gì giỏi lắm cũng chỉ bán được vài chục bạc là cùng. Không hiểu khi anh chàng đã no thuốc sáng suốt có nhớ ra được mình không? Liêm nhìn qua đống rác bên bờ tường nhà thương. Không, chưa bao giờ tôi là kỷ niệm của một ai, anh ta sẽ chẳng thể nhớ ra nổi khuôn mặt xa lạ giống như mọi người.

Thêm vào giỏ hàng thành công