favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova
Một kinh nghiệm đọc Hồ Xuân Hương
Next

(Đôi khi tôi viết để đo một số khía cạnh của bản thân, như người cố lặn sâu nhất có thể, các thực hành thường nhật này sẽ vô nghĩa nếu nhờ AI)

 

Text đầu tiên là ở trên ghế nhà trường, một text đạo mạo theo văn mẫu, và có phần gian dối vì tôi không viết đúng lòng mình, lòng rạo rực của đứa học trò quá ít thơ ngây,  đứa đã liên tưởng đến nhân hình rù quến trên tờ bìa bóng lưỡng, đôi vai nõn máng yếm lụa đào, đứa đã thoáng thấy tuyển tập thơ Hồ Xuân Hương trong góc kẹt một hộc tủ tối tăm tại hiệu sách. Tôi đã ngỡ mình sẽ nhập động tình lơi lả nếu giở tờ bìa ấy ra, lòng khinh khi của đấng quân tử hay thói nhả nhớt của phường sở khanh đã ngăn tôi mua sách ấy, tôi quên mất rồi, có lẽ đơn giản là kinh tế eo hẹp mà còn nhiều sách hay hơn. Để khi quá tuổi học trò, tôi chỉ biết Xuân Hương qua chén trôi nước phơi bày chiều nhục thể.

 

Vào lúc một năm qua, tôi lớn hơn khung cảnh xung quanh mình, tôi biết thế vì trong một lần nói chuyện: tôi đã vượt quá chân trời của mẹ mình. Khi tôi thấy mình già hơn mẹ, tôi xót thương hết thảy đàn bà trên đời. Mẹ tôi là bà già quê mùa không nhớ nổi password, suốt năm ru rú ở bếp nhà, mẹ không có bạn bè như cha tôi, chỉ có bà người làm để cùng thủ thỉ, niềm vui mỗi ngày của mẹ là clip hài tik tok. Chén rượu đời mẹ chẳng uống quá hai hớp, tôi tự hỏi mình có dám xót thương bà, bằng độ cao gu bản thân tôi có dám nhìn xuống bà, như nhìn một cuộc đời bị phá huỷ. Nhưng mẹ hỡi, mẹ hãy khinh bỉ con, vì con đọc sách chỉ để ưu sầu hơn mẹ, hãy khinh bỉ con như bà già mộ đạo khinh bỉ nhà thần học hoài nghi, chỉ có thế con mới vui lòng.

 

“Hỡi các nữ thần đỉnh Olympia, tôi xin vời các thần đến, người đã chiếm nửa số ghế vàng nơi điện thánh, và bảo trợ dòng giống Eva từ thuở khai thiên. Xin nghe, kẻ học giả này đang đốt đuốc tìm mẹ hắn, hắn muốn thấy mẹ như trong ngày Chúa gọi bà thức dậy từ cõi chết, bà ở đó vẹn toàn trước cái nhìn thấu hiểu. Đừng xua đuổi, hãy cho hắn vào khu vườn bí mật của giới người, bởi hắn đang có một cuộc đời cần được hiểu, hắn đến xin trái Tri Thức mà mẹ hắn chưa ăn, mắt tôi đây đã sẵn sàng cho cuộc lưu đày.”. Khi hoảng sợ vì mình trót xót thương mẹ, tôi run rẩy khẩn cầu các nữ nhà văn, xin họ kể những điều tôi chửa được nghe, bởi giọng mẹ rối mù và lắp bắp chỉ hiến cho nước mắt đồng cảm trút từ con tim, còn hắn là kẻ sống quá lâu trong bụi giấy, tâm hồn hắn chỉ còn thứ tro dành cho trừu tượng con người, hắn chỉ còn nức nở bằng tiếng ho lúc cặm cụi mò mẫm mực trên giấy, hắn không cần gì hơn thấy mẹ hắn như Chúa hẳn sẽ thấy bà. Khinh miệt hắn nhưng hãy bao dung với tên quái vật.

 

Ô Jane Austen! Hãy cho tôi dự tiệc trà của người. Mẹ và dì của người sáng suốt quá, nhìn thấu quá, chỉ trong nháy mắt đã phẩu thuật xong một tay rể hờ, thật xứng danh nữ vương Hera. Tôi muốn biết những trăn trở của phụ nữ khi lấy chồng, vì đó đâu phải chuyện chơi, ở các thời chưa được phép li dị. Chóng mặt làm sao khi phải chọn số phận của mình ở phần ba quãng đời đầu! Vâng, tôi cũng đồng ý là không nên trao dây cương cho tuổi trẻ ở những ngã rẽ không thể quay đầu, nếu không thể đổi phối ngẫu thì dòng máu nóng tuổi trẻ không phải là chiếc la bàn tốt. Hãy cho tôi xem biết bao là lạnh lùng phân tích, ở thuật bài binh bố trận của mẹ dì, và kế sách mưu lược của thím mợ. Tôi từng lo bao nhiêu cho thằng nhỏ của Céline không kiếm được việc, thì cũng sẽ lo bấy nhiêu cho thiếu nữ nhà Jane Austen lấy nhầm chồng tồi, nhất là ở cái thời đàn bà phải lấy tên giả để viết lách, là khi hôn nhân là sự nghiệp của người phụ nữ - một thực tại tôi chưa thể hiểu cho thấu. Lạ thay! Tình yêu trổ ra từ kinh nghiệm.

 

Ô Clarice Lispector! Hãy hát cho tôi nghe chiến công của những bà nội trợ, những bậc anh thư của nữ thần Athena. Tôi biết có những cuộc chiến khác với cuộc chiến của Ares, và những chuyến trở về giống như Odyssey. Hát tôi nghe những vực thẳm nào các bà nội trợ phải băng qua để về nhà, những bảng tuyển dụng là một cuộc đời khác rộng mở, như những trái quả gây quên ở đảo dừng chân, bước qua thôi là ta thoát khỏi cơn chán chường của thường nhật. Và như những con thuỷ quái Địa Trung Hải khủng khiếp, đám dân văn phòng sẽ khiến các bà cuối đầu nhục nhã như bọn thất nghiệp, còn lũ ăn mày sẽ khiến các bà ôm ngực dằn vặt như phường cậu ấm cô chiêu nhàn tản. Đường về nhà sao trắc trở quá, may mà các bà đã về tới nơi, vừa kịp lúc để đánh trận cuối cùng, mất đâu rồi ngọn lửa tình yêu, hỡi các bà hãy lục tìm cho mau trước khi đứa trẻ bẩn thỉu chạy lại đòi bế, tình yêu cứ chực lụi tắt dù tình mẫu tử là điều thiên định, yêu lại lần nữa là cuộc chiến của các bà đấy dù không ai có thể tự mình yêu. Tôi chịu chết, không thể trộm lửa tình từ tay Thượng Đế, để thắp lên lại cho lòng bớt lạnh lùng, để tha thứ hết thảy tội đời cho đứa trẻ. Mỗi ngày mở mắt ra, buộc phải yêu lần nữa cả một gia đình, chắc chắn phải cần một trái tim sư tử.

 

Ô Edith Wharton! Hãy kể cho tôi chuyện các nàng Ondine của nữ thần Venus. Có phải như người ta đồn, sắc đẹp của các nàng là xa xỉ phẩm của cánh đàn ông? Như người Mỹ nói, một trophy-wife, có phải là loại huân chương mà người rất rành, hãy kể tôi nghe đi. Có phải các nàng buộc phải cắm con chim chết lên đầu để gia đình leo thang danh vọng, có phải người ta trói nàng bằng sợi tơ vàng mảnh như trong suốt để nàng thành vô dụng, tôi nghe kể chỉ cần nàng nhấc tay dời ghế là nhục nhã thay cho bậc trượng phu. Có phải như Thorstein Veblen - người Mỹ nói: về cơ bản, các nàng tương tự đám người hầu ăn mặc bảnh tỏn, là cỗ xe ngựa chở đầy vàng cho các gia đình thượng lưu hãnh tiến rượt đuổi nhau mãi mãi như Achilles với con rùa, cuộc đua không bao giờ kết thúc của tầng lớp nhàn rỗi Mỹ mạ vàng?

 

Ô Katherinne Mannfields! Tôi vẫn nhớ những quý cô của người lang thang dưới ánh trăng xanh trong khu rừng của nữ thần trinh bạch Atermis. Giữa thế gian mà sự thô lậu bị che khuất bởi sự suồng sã và sự tuỳ tiện thì ê hề một cách buông tuồng, các nàng tồn tại như một thoáng hiện của thiên đàng, sự nhạy cảm quá đỗi của họ là thứ không khí miền cao, mà bên họ, ta như được đứng trên một trảng cỏ tắm trăng sáng. Tôi không e ngại đâu, tính nghiêm khắc của lớp phó kỷ luật, vì đó là mẹ của tính tỉ mỉ và tinh tế, thứ làm nảy mầm sự chú tâm - làm nguồn cho cái thiện. Tính cách ưa sạch sẽ rất mực nữ tính ấy, thanh tẩy ta và phơi bày sự tầm thường của bối cảnh, họ gắt gỏng đấy nhưng giữ mọi thứ thuần khiết như bông huệ trắng. Ta cần lắm những dandy của giới nữ này để thấy bên ngoài lề chuẩn mực có niềm vui, như những flâneur lười biếng, các lady nhà Mannfields - những người không đùm đùm đề đề chồng con, đã kể cho tôi nghe thật nhiều về đám đông, và cho tôi thấy đài nến trắng trên bệ thờ tôn giáo cái đẹp.

 

Ô Szabó Magda! Chính tôi đây, từ khi còn rất nhỏ, là Dionysus được nữ thần Hestia nhường ghế vàng đỉnh Olympia, như mọi gã đàn ông khác. Đừng để họ bị quên lãng, những bà già không chồng không con, suốt đời lao khổ, suốt đời đi làm osin cho các gia đình. Các bà già không biết chữ quê mùa lạc hậu, cũng không tiếc thân mình làm như ngựa trâu, các bà như thể mọc lên từ đất, bà sẽ lo chu toàn cho đám trẻ có bố mẹ không bao giờ ở nhà. Phải, bà sẽ lo cho chúng chắc như bắp, dù đầu bà đầy nhóc trò mê tín dị đoan, bởi bà có một đạo đức cũng lành và chắc như đất: bà khiếp sợ sấm chớp, Chúa và Phật. Đừng để họ bị lãng quên, những bà nội và bà ngoại - những bà già quê, họ lạc thời, nhưng là bí mật muôn đời đối với các cô gái trẻ, họ sẽ còn lại ở trái đất khi tất cả đi hết, họ thuộc về địa cầu chứ không phải địa ngục hay thiên đàng, họ sẽ đi khắp mặt đất để tìm nhặt những cái thai bỏ hoang. Từ khói bụi chiến tranh, họ đứng thẳng lên trước nhất, như một cây đa đầu làng làm định vị, cả đàn ông và đàn bà sẽ dựa vào họ để xây dựng lại tất cả. Nhưng Chúa ơi! Xin người đừng để họ mắc tật nhiều chuyện.

 

Chỉ còn Demeter, nữ thần mùa xuân và mùa đông, đó là khi tôi tìm đọc lại Hồ Xuân Hương.

 

Về thị, tôi lạc đường không ít.

 

Ở text đầu, tôi đặt thị trong đối sánh với Bà huyện Thanh Quan. Đó là đối cực giữa cái cao nhã và cái thông tục, là giữa sĩ phu và dân gian, là giữa cái bi kịch định mệnh bất khả lay chuyển và cái hài kịch đảo lộn thế gian, giữa cái buồn trang nghiêm và cái cười sống động, giữa đỉnh đồi hoàng hôn và hang động chiều muộn. Nhưng đang viết thấy có gì không khớp nên text đã không thành.

 

Ở text sau, tôi đặt thị trong đối sánh với Trần Dần. Đó là đối cực giữa đực tính và nữ tính, là giữa cái chủ động và cái bị động, là giữa cứng và mềm, giữa sự tiến tới bạo liệt đến nổ tung và sự chấp nhận hết mọi thứ nhưng vẫn trống rỗng lạnh lẽo, là giữa người lính xăm xăm thi hình nhiệm vụ không thoả thiệp và các thị mở lòng từ bi chấp nhận hết mọi oan ức khuất nhục. Nhưng rồi vẫn thấy có gì đó sai sai nên text không thành.

 

Mãi đến khi đọc Đỗ Long Vân bình luận Hồ Xuân Hương, tôi mới vỡ lẽ.

 

Cõi thơ Hồ Xuân Hương như đài hoa sen bị chim rỉa hết hạt, nó không sống động, nó phần nhiều là đá nên nó như một cái động toang hoác, nó vắng tanh, nó không nồng ấm mà lại lạnh lẽo hoang vu. Ở đằng xa, cây thông chỏng chơ giữa nền trời trắng, những hòn sỏi ngà vừa tay nắm trơ trọi như những cái răng gãy, vạn vật đều trơ ra đấy tuỳ lòng người nắm mặc tình người mân mê, chẳng còn gì phong kín e ấp thẹn thùng, chẳng vật chi quan tâm đến bản thân mình. Khí âm hàn của khu chợ ế thấm lạnh lòng tôi, và còn bởi lời đồn về một cô bị người phụ bạc ra đây than thân, tôi nhớ câu ca dao buồn tủi của những thị ngày xưa, thân em là câu hát đối không ai đáp lời, tình nồng bị tay quân tử dội nước ao, khiến cho lòng chơ vơ đến nỗi thành lời trơ trẽn. Ở đây có xóm nghèo không cho người tự trọng nổi, ai cũng tự nhủ lòng phận thấp hèn ráng vá víu đùm bọc lẫn nhau, cái tôi teo nhỏ còn con con, dòng liu điu nên nhường người cả, cô gái quê lấy áo mới lau bùn nơi gót giày công tử kinh đô, như người chị cả nhịn phần mình cho em, con ốc cõng vỏ bò lê. Sự rẻ rúng thân mình tạo nghịch lý thật kỳ khôi, với người con gái nghĩ thân mình là đồ rẻ rách, khi người ta cần thân xác cô như cần một khoái lạc phút chốc, cô cho tất người ta như món đồ mà chính cô cũng khinh khi, như thể cô mừng khi tìm được một người cũng đồng lòng với cô là ông trời đã xử xong đời cô, cô dễ dãi chấp thuận hợp tác với họ chà đạp thân thể nhuốc nhơ của mình, còn khi người quân tử xem thân cô như báu vật thiêng liêng của ái tình, đạo đức cô lại ngăn cô bán đắt thân mình cô cho kẻ tình si,  cô nghĩ họ đã nhầm thật to và cô không muốn lừa họ, thế là cô tránh né những người yêu cô thật lòng vì cô không muốn làm khổ họ, cô mong thời gian sẽ khiến họ hết cơn dại dột, mà xuề xoà với cô.

 

Thời gian của Hồ Xuân Hương tồn tại dưới dạng vật chất là rêu. Rêu là dấu sắc nung đánh dấu những vật không còn hữu ích, một mặt bàn đá khắc bàn cờ tướng bị rêu xanh phong kín chỗ đặt quân xe. Ngay khi bị phủ rêu, sự tồn tại của vật trở nên sai trái, nó bị coi như tồn tại lâu hơn đáng lẽ, ngay khi bị phủ rêu, vật bị nung nóng dần bởi sự lâu phi lý của nó, như một gái lỡ thì. Và ngay khi đó, nó giải phóng chính mình khỏi kỳ vọng mục đích tính áp đặt bởi người, nó không còn là vật, người ta không còn đòi hỏi ở một vật dát rêu ẩm, nó đạt được tự do lớn nhất khi lớp rêu xanh chuyển hoá bản tính vật dụng thành một bản tính từa tựa tự nhiên, vật dụng hoá thành tự nhiên nhờ rêu. Thơ Hồ Xuân Hương là lời than thân của người con gái đã quá lứa thành phụ nữ và chỉ có thể tồn tại như tình nhân tiểu thiếp - thiếu nữ vĩnh viễn ngoài lề xã hội. Không như thơ Ponge, các đồ vật của Hồ Xuân Hương luôn thom thóp lo sợ đóng rêu, hoặc đã đóng rêu rồi khủng hoảng tự đặt câu hỏi về tồn tại trơ của mình. Vì thế, chúng phải lơi lả với người.

 

Ô Demeter! Người tạo ra mùa xuân và cũng tạo ra mùa đông.

Viên Trường

favorites
Thêm vào giỏ hàng thành công