favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova
La Vita
Next

Đứa trẻ

0 trang
27 lượt xem
0 lượt tải

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đứa trẻ

Thomas Bernhard
Anh Hoa dịch

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chưa ai từng tìm thấy, cũng sẽ chẳng ai có bao giờ tìm thấy. (Voltaire)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Lần đầu tiên tôi leo lên xe đạp đi một vòng là khi tám tuổi, ngay bên dưới căn hộ gia đình tôi đang sống ở Taubenmarkt, Traunstein. Những con phố của thị trấn tỉnh lẻ hãnh tiến đã lịm vào giấc trưa vắng lặng. Chiếc xe đạp cũ, hiệu Steyr-Waffen, thuộc về người giám hộ tôi, lúc ấy đang phục vụ trong quân đội Đức ở Ba Lan, chuẩn bị tiến vào Nga. Vừa thử, tôi đã mê ngay môn nghệ thuật mới mẻ này. Tôi đạp một hơi khỏi Taubenmarkt, men theo Schaumburgerstrasse vào quảng trường lớn, lượn hai ba vòng quanh nhà thờ giáo khu và, tin chắc rằng mình đã hoàn toàn làm chủ cái xe, tôi nảy ra một quyết định táo bạo mà, chỉ vài tiếng sau, tôi đã thấy là dại dột: đến thăm bà mợ Fanny ở Salzburg cách đó chừng hăm hai dặm. Mợ Fanny sống trong một ngôi nhà có vườn hoa bao quanh, được mợ chăm chút hết lòng theo đúng lề thói thị dân của chủ nhân các ngôi nhà nhỏ và Chủ nhật nào mợ cũng làm món cốt lết bê trứ danh của mợ. Tôi coi nhà mợ là đích ngắm hợp lý nhất cho chuyến phiêu lưu đầu tiên và dự định, sau khi tắm mình trong những lời thán phục bất tận của mợ dành cho kỳ công của đứa cháu, sẽ ăn kỳ no và ngủ thật đẫy để bù lại những mỏi mệt đường trường. Từ khi bắt đầu biết nhận thức và tò mò về thế giới xung quanh, tôi đã coi những người đạp xe là một dạng tinh hoa, và đây, tôi đang ghi tên mình vào hàng ngũ vinh quang ấy. Chẳng ai dạy tôi môn nghệ thuật mà từ lâu tôi đã hoài công thán phục: tự tôi đẩy chiếc xe Steyr-Waffen quý giá của người giám hộ ra khỏi nhà, không thưa gửi gì dù lòng chẳng phải không bứt rứt, và, chẳng mảy may hình dung trước phải làm sao, tôi cứ thế ấn toàn bộ sức nặng của mình lên pê đan, đạp thẳng cánh cò. Trong khoảnh khắc sơ khởi ấy, vì đã không ngã ngay, tôi thấy mình chẳng khác nào một anh hùng đích thực, người tráng sĩ cuối cùng đã chịu lên đường thực hiện kỳ tích đã định cho mình. Với bản tính tôi thì sẽ chẳng bao giờ có chuyện tôi chịu xuống khi mới dạo vài vòng quanh quẩn; trong cuộc phiêu lưu này, cũng như mọi lần khác, tôi luôn đẩy mình đến tận cùng. Không nói với ai tiếng nào, tôi cứ đường hoàng cưỡi xe rời quảng trường, băng qua Au và thẳng tiến vào đồng quê rộng lớn, nhằm hướng Salzburg. Dẫu còn quá nhỏ, không thể ngồi trên yên mà đạp pê đan - tôi phải đứng đạp, như mọi kẻ khởi sự tí hon trong công việc quá cỡ này - tôi vẫn đạt được một tốc độ ghê người. Con đường liên tục đổ dốc càng khiến chiếc xe phi mạnh. Tôi ngây ngất đến tê dại cả người. Giá mà mọi người biết mình đang làm được những gì chỉ nhờ một quyết định bất ngờ, tôi nghĩ; giá mà mọi người có thể ngắm nhìn mình ngay lúc này, đồng thời trầm trồ tán dương mình - bởi làm sao họ có thể làm khác được đây? Tôi mường tượng sự kinh ngạc, sự ngưỡng mộ tột cùng của họ. Tôi không mảy may nghi ngờ việc chỉ tài năng xuất chúng là đủ xóa sạch mọi lầm lạc, mọi tội lỗi của tôi. Ngoài tôi, liệu còn kẻ nào có thể, ngay lần đầu, nhảy thẳng lên xe phi một mạch đến Salzburg? Người ta sẽ phải công nhận rằng tôi đã quyết làm gì thì sẽ làm kỳ được, mặc mọi sự phản đối và cấm cản. Tôi sẽ khuất phục tất cả và sẽ luôn chiến thắng! Khi dồn sức ấn mình trên pê đan lúc phi đến các khe bên dưới Surberg, tôi chỉ mong sao ông tôi, người tôi yêu nhất trên đời, có thể nhìn thấy tôi huy hoàng trên chiến mã ngay lúc này. Nhưng vì chẳng có ai ở đây, chẳng ai biết về cuộc phiêu lưu (lúc này đã đạt được một mốc đáng kể), tôi chỉ đành biểu diễn một kỳ công không người chiêm ngưỡng. Khi đang phi trên đỉnh cao, ta chẳng khao khát gì hơn một ánh mắt thán phục, nhưng chẳng có ai. Tôi đành tự mình quan sát, thán phục mình. Gió càng thổi dữ, cái đích là nhà mợ Fanny càng gần, khoảng cách giữa tôi và chốn khởi sự kỳ tích của tôi càng lớn. Đến một dải đường thẳng băng, tôi thả cho hai hàng mi khép lại trong thoáng chốc, cảm thấy rần rật tuôn nỗi đê mê của sự chinh phục. Chính lúc này, trở thành một với ông tôi. Chính lúc này, tôi đã thực hiện khám phá lớn nhất cuộc đời, đã cho tồn tại của mình một ngã rẽ mới, nhiều khả năng là ngã rẽ quyết định, bằng cách học nghệ thuật chuyển động trên bánh xe. Thì ra đây là cách những người đạp xe đối mặt với thế giới. Từ trên cao, họ phi xuống, chân không chạm đất! Làm người đạp xe đồng nghĩa với việc tuyên bố rằng, ta là chủ nhân thế giới này. Trong nỗi ngất ngây chưa từng biết, tôi đáp xuống Teisendorf, nổi tiếng vì nhà máy bia của nó. Lập tức, tôi phải nhảy xuống và đẩy chiếc xe, món tài sản của người giám hộ, người đã hầu như hoàn toàn biến mất khỏi cuộc đời chúng tôi kể từ khi vào quân đội. Giờ tôi bỗng nhận ra khía cạnh không mấy dễ chịu của việc đi xe. Con đường bỗng trở nên dài thê thảm. Tôi bắt đầu đếm, thoạt tiên là những tảng đá viền mép đường, rồi đến những vết nứt nhựa đường. Chỉ lúc này tôi mới nhận ra rằng tất chân bên phải của tôi đã dính đầy dầu từ dây xích và rũ xuống tơi tả. Tôi tuyệt vọng nhìn chiếc tất rách và ống chân bê bết dầu đã bắt đầu rướm máu. Cảnh đầu của một bi kịch đang dần hiện hình chăng? Strass trải rộng trước mắt tôi. Tôi biết vùng đồng quê này cùng các làng ở đây nhờ nhiều chuyến tàu đến nhà mợ Fanny độ trước - mợ lấy em trai mẹ tôi. Trong đầu tôi, hình dung đã hoàn toàn đổi khác. Tôi tự hỏi liệu hai lá phổi của mình có đủ sức trụ đến Salzburg hay không? Vội vàng, tôi nhảy lên xe đạp nghiến, cố lấy dáng một tay đua, vì tuyệt vọng và tham vọng chưa muốn bỏ hơn là vì phấn khích, và càng càng như thế càng cố đẩy cao tốc lực. Khi tôi đã vượt khỏi Strass và bắt được Unterstrass trong tầm mắt, xích xe đạp bỗng đứt phựt, vướng vào nan hoa bánh sau. Tôi lao thẳng xuống mương. Thế là hết, chẳng còn vớt vát được gì. Tôi nhỏm dậy, nhìn quanh. Không có ai chứng kiến. Sẽ nhục nhã lố bịch biết chừng nào nếu cú rớt đài vừa rồi bị bắt gặp. Tôi dựng chiếc xe dậy, cố gỡ dây xích khỏi nan hoa. Người nhớp nháp dầu, máu và run lên vì tuyệt vọng, tôi dõi mắt về hướng Salzburg. Chỉ còn bảy, tám dặm nữa thôi, vậy mà. Mãi tới lúc này tôi mới nhận ra mình không biết địa chỉ nhà mợ Fanny. Tôi sẽ chẳng bao giờ có thể tìm được ngôi nhà được vườn hoa bao bọc ấy. Kể cả nếu tôi có hỏi, Nhà mợ Fanny của tôi ở đâu? hay Mợ Fanny của tôi sống ở chỗ nào? - đấy là giả sử tôi đến được Salzburg - thì cũng sẽ chẳng có câu trả lời, hoặc vài trăm câu trả lời không thống nhất. Tôi đứng đó, ghen tị với những người lướt qua trên ô tô, xe máy, chẳng ngó ngàng gì tới đau khổ của tôi. Dẫu sao bánh sau vẫn quay được và tôi vẫn còn có thể đẩy chiếc xe của người giám hộ, dẫu chỉ để đưa nó về nơi tai họa và bóng tối đã giương sẵn vuốt chờ. Trong cơn ngây ngất trước đó, tôi đã mất hoàn toàn ý niệm về thời gian. Như để làm mọi thứ thảm thê hơn, một trận bão đùng đùng giáng xuống, biến vùng đồng quê tôi vừa phi qua trong bình yên hoan lạc thành địa ngục. Mưa trút không thương tiếc, tưới ướt đầm cả người tôi và, trong nháy mắt, biến con đường thành dòng lũ. Đẩy xe trong mưa, tôi không tài nào ngưng được khóc. Trời đã tối đặc, tôi không còn thấy gì nữa. Lúc nào cũng thế, tôi nghĩ, mình lại trở thành nạn nhân của một cám dỗ rốt cuộc chỉ đưa đến tai họa. Tôi kinh hoàng tưởng tượng cảnh mẹ tôi đến đồn cảnh sát, vừa giận dữ vừa hốt hoảng, lập cập than thở về thằng con trời đánh, đứa trẻ gớm guốc. Ông tôi, sống ở bên kia thị trấn, hẳn sẽ chẳng biết gì. Một lần nữa, tôi đặt hết hy vọng nơi ông. Có một điều chắc chắn: thứ Hai, tôi sẽ không thể đi học. Tôi đã lỉnh đi theo cách không sao chấp nhận được, chẳng thưa gửi ai lấy một lời, lại còn phá hỏng xe đạp của người giám hộ. Giờ cái vật tôi đang nhọc nhằn đẩy trên đường chỉ là một mớ rác chẳng ai thèm. Cơ thể tôi quại quằn run rẩy, hết vì mưa xối lại vì sợ hãi. Trong tình trạng ấy, tôi mò mẫm suốt mấy tiếng tìm đường về. Tôi hạ quyết tâm sửa chữa mớ bòng bong này; nhưng liệu còn có thể? Tôi đã chẳng thay đổi mảy may; những hứa hẹn của tôi cuối cùng đều vô giá trị; bao nhiêu ý định tốt đẹp chỉ là những lời sáo rỗng. Tôi nguyền rủa mình. Tôi muốn chết. Nhưng đâu có đơn giản thế. Tôi còn cố vớt vát chút gì như danh dự. Tôi khép mình vào hình phạt tối trọng. Không phải tử hình - mà là hình phạt tối trọng, dẫu tôi không rõ cụ thể là gì. Và lập tức tôi nhận ra sự phi lý của thứ trò chơi quỷ quái tôi bày ra với chính mình. Tội lỗi của tôi càng lúc càng đè lên tôi nặng trĩu, sức nặng khủng khiếp không cách nào né tránh. Tất thảy những lầm lỗi trước đây so với nó chẳng là gì. Những lần lỉnh đi chơi, những lời nói dối, những cái bẫy tôi giăng khắp chốn, tất thảy đều có vẻ vô hại khi đặt cạnh tội lần này. Tôi đã chạm đến một nấc nguy hiểm trong sự nghiệp phạm tội. Chiếc xe đạp nát bươm, quần áo tả tơi bẩn thỉu, và toàn bộ sự tin tưởng những người khác đã trao cho tôi bỗng chốc tan tành theo cách chẳng thể nào tủi nhục hơn. Đột nhiên tôi thấy từ ăn năn thật không đúng chỗ. Đẩy xe qua địa ngục, tôi lần lượt tính sổ từ trên xuống dưới, cộng, chia, trừ: nhất định phải khủng khiếp lắm, bản án sẽ giáng xuống đầu tôi. Toàn bộ suy nghĩ của tôi bị từ không thể tha thứ áp chế không lối thoát. Khóc lóc và nguyền rủa bản thân thì được tích sự gì? Tôi yêu mẹ tôi, nhưng tôi không phải là đứa con ngoan. Cả con người tôi chẳng có gì thẳng thớm và những rắc rối tôi gây ra là quá sức chịu đựng đối với mẹ. Tôi tàn nhẫn, tôi ích kỷ, tôi gian dối, và, khủng khiếp nhất, tôi tráo trở. Chỉ nghĩ về mình đã đủ khiến tôi chán ngán. Ước gì lúc này mình đang ở nhà, tôi thầm nhủ, dựa đầu lên vai mẹ, sung sướng lắng nghe nhịp thở của mẹ khi đọc Tolstoy hay một tiểu thuyết Nga nào mẹ vẫn yêu. Tôi đã chìm sâu quá! Nhơ nhuốc quá rồi! Sao tôi có thể làm ô uế tâm hồn mình đến thế! Tôi đã lừa dối mẹ tôi, ông tôi đến tận cùng! Mày xứng lắm với cái tên người ta đặt cho mày - đứa trẻ gớm guốc nhất thế gian! Thế giới lúc này với tôi tuyệt đối không còn ánh sáng. Chỉ có sự xấu xa và tởm lợm. Nếu mình đang ở nhà, tôi nghĩ, mình có thể lên giường đi ngủ mà chẳng hề xấu hổ, lương tâm không chút nào cắn rứt. Tôi tưởng tượng cảnh mẹ chúc tôi ngủ ngon và càng khóc cay đắng hơn. Chân tôi có còn giày không? Sao tôi thấy mưa như thể đã cuốn mất của tôi mọi thứ, chẳng để lại gì ngoài khốn khổ tột cùng. Nhưng tôi không được bỏ cuộc. Tôi thấy ánh sáng, và trong ánh sáng, tôi chậm chạp nhận ra từ quán trọ. Đây là hy vọng cuối cùng của tôi. Ông đã luôn cảnh báo tôi rằng thế giới này là chốn tởm lợm, tàn nhẫn, chết chóc. Ông mới đúng làm sao! Mọi thứ kinh khủng hơn nhiều những gì tôi đã tưởng. Tôi chỉ muốn chết, chết ngay tại chỗ. Nhưng tôi vẫn cố lê cái xe tàn nốt vài thước, tới cửa quán trọ, dựng nó dựa vào tường và bước vào. Bên trong có một sân khấu, nơi một đám thanh niên nam nữ nhà quê đang nhảy theo nhạc; giai điệu ban nhạc chơi rất quen nhưng chẳng thể nào an ủi được tôi. Ngược lại, giờ đây tôi thấy mình hoàn toàn nằm bên ngoài. Tôi phải đối diện với toàn bộ xã hội loài người và chỉ mình tôi không thuộc về nó. Tôi là kẻ thù. Tôi là tội phạm. Tôi không còn xứng là một phần của nó. Nó phản đối, xua đuổi tôi. Sự hòa hợp, hân hoan và an toàn không dành cho kẻ như tôi. Cả thế giới đang giơ ngón tay điểm đúng mặt tôi. Chuyện đó tủi nhục biết chừng nào. Suốt buổi dạ vũ, chẳng ai để ý đến nỗi khốn khổ của tôi, nhưng khi các cặp nhảy rời sân khấu, tôi bỗng bị phát hiện. Tôi xấu hổ ghê gớm, đồng thời lại sung sướng khi người ta bắt chuyện với tôi. Cháu từ đâu tới? Cháu định đi đâu? Cha mẹ cháu là ai? Họ sống ở đâu? Họ có điện thoại không? Thôi được, ngồi xuống đây. Tôi ngồi. Uống gì đi. Tôi uống. Ủ mình cho ấm. Tôi ủ. Tôi được đưa một chiếc áo khoác tiều phu xù xì để quấn quanh người. Cô phục vụ hỏi tôi; tôi vừa trả lời vừa khóc. Đứa trẻ đột nhiên rơi tọt lại hình hài đứa trẻ. Cô phục vụ chạm vào nó nơi gáy. Cô xoa xoa. Nó được cứu rồi. Nhưng điều đó không thay đổi sự thật rằng đó là đứa trẻ gớm guốc nhất thế gian. Tao đã chẳng cần gì ngoài mày! - đó là những gì mẹ luôn nói với tôi, đến tận bây giờ tôi vẫn như nghe rõ mồn một. Đứa trẻ gớm guốc! Tội lỗi lớn nhất của tôi! Tôi co mình trong một góc tối của phòng khách quán trọ, quan sát xung quanh. Tôi bị thu hút bởi dáng vẻ tự nhiên của những người đang đứng trên sân khấu và tụ tập đằng trước nó. Thế giới này, xã hội này đang bộc lộ mình, đang hành xử theo cách thật khác thế giới của tôi. Tôi không thuộc về nó, dẫu muốn hay không, và những người ở thế giới của tôi cũng không thuộc về nó, dù muốn hay không. Nhưng có phải sự tồn tại của một số người là tự nhiên trong khi của những kẻ khác là giả tạo? Có phải người ở đây thì tự nhiên còn người ở thế giới của tôi thì giả tạo? Tôi không sao chuyển hóa được suy tưởng này thành một ý rành mạch. Tôi yêu âm thanh của kèn clarinet và không để ý tới bất cứ thứ gì khác, chỉ chăm chăm bám lấy mối liên hệ bí mật với nhạc cụ yêu thích của tôi. Người ta bảo tôi rằng sẽ có hai thằng bé đưa tôi về nhà, nhưng phải chờ đến nửa đêm. Họ nhảy cho đến khi không thể nhảy nữa, và tôi thấy nhen nhóm trong mình một sợi dây tình bạn. Tình bạn này bắt đầu ngay từ lúc tôi để ý quan sát họ. Cô phục vụ vẫn liên tục mang đồ ăn thức uống cho tôi. Ai cũng bận rộn với việc của mình. Ngoại trừ việc cho tôi ăn uống, họ không đả động gì tới tôi cả. Tôi có thể hạnh phúc giữa khung cảnh này; tôi yêu các phòng khách quán trọ và sự bầu bạn vô tư của con người ở đó. Nhưng tôi không ngu độn đến nỗi quên được tương lai đang giương vuốt. Những gì chờ đợi mình khi rời khỏi đây sẽ khủng khiếp hơn tất cả những nỗi hãi hùng mình từng trải qua, tôi nghĩ. Trực giác của tôi chưa bao giờ để tôi yên. Kể cả khi đang được gói kín trong một bọc tình người, toàn thân ướt như chuột lột và co ro trong một góc tối được định sẵn, tôi vẫn có màn biểu diễn của riêng tôi, vở kịch đạo đức của tôi, nhà hát múa rối bí mật của tôi. Chẳng có gì ngạc nhiên khi tôi đã thiếp đi lúc hai người kia đến. Với cung cách thô lỗ xù xì của mình, họ đánh thức tôi. Vác tôi lên vai, họ mang tôi ra khỏi thế giới âm nhạc và dạ vũ. Đêm đầy sao lạnh như băng. Một trong hai người đặt tôi ngồi lên xe đạp đằng trước, để tôi bám lấy ghi đông; người kia lái một tay, tay kia kéo chiếc xe đạp què. Họ lao vun vút tới Surberg, nơi họ sống. Họ hoàn toàn lặng câm; âm thanh duy nhất tôi nghe được là tiếng thở hổn hển nặng nề của họ. Họ đặt tôi xuống trước cửa. Người mẹ bước ra, đưa tôi vào. Bà cởi quần áo của tôi, vắt cạnh bếp, lúc này còn nóng hổi, rồi cho tôi hớp ít sữa hòa mật ong. Bà chăm sóc tôi như một người mẹ nhưng chẳng nói nửa lời; sự im lặng của bà bảo cho tôi biết rằng bà rất không hài lòng về hành động của tôi. Bà không cần tôi giải thích những gì đã xảy ra. Đâu có gì bí ẩn. Bố mẹ cháu sẽ nói thế nào, bà hỏi. Tôi biết chắc chắn chuyện gì sẽ tới khi tôi về nhà. Hai thằng bé đã hứa sẽ đưa tôi về. Khi người tôi đã khô ráo, không còn lập cập vì lạnh và đã dần quen với sự ấm áp của ngôi nhà nông dân xa lạ nhưng dễ chịu, tôi cởi chiếc áo fustian mà vợ người nông dân đã choàng cho tôi mặc và mặc lại quần áo của mình. Hai thằng bé lại đưa tôi đi, đến Traunstein. Họ thả tôi xuống Taubenmarkt, trước cửa nhà rồi biến mất. Tôi thậm chí còn chẳng kịp cảm ơn họ. Tôi vừa đặt chân xuống đất, họ đã mất dạng. Tôi ngước nhìn bức tường tối đen, dõi mắt lên tầng hai. Không có mảy may lay động. Lúc này khoảng ba giờ sáng. Thê thảm nhất là cảnh chiếc xe đạp Steyr-Waffen của người giám hộ mà hai thằng bé đã dựng dựa vào tường. Chẳng còn cách nào, tôi sẽ phải đối mặt với mẹ thông qua ông. Ông đang sống cùng bà ở Ettendorf, trong một nông trang nhỏ chỉ cách một chốn hành hương tiếng tăm vài trăm thước. Ở đó, mỗi thứ Hai Phục Sinh, dân làng lại diễn một cuộc cưỡi ngựa vinh danh Thánh George. Sẽ là đại họa nếu chỉ có mẹ và tôi xoay sở với chuyện này. Trong việc giải quyết mâu thuẫn, ông luôn được tất cả mọi người tín nhiệm. Lời của ông là luật. Ông là quan tòa, người duy nhất có thẩm quyền tuyên án. Tôi biết chính xác điều gì sẽ giáng xuống nếu ngay bây giờ tôi rung chuông, và tôi thận trọng không rờ tới nó. Tôi dựng chiếc xe đạp què len vào giữa bức tường và cái xe cút kít được dùng cho đủ thứ việc hầm bà lằng, quanh năm suốt tháng chầu chực bên cánh cửa. Rồi tôi lên đường đến Ettendorf cách nhà chừng hai, ba dặm. Tôi yêu sự tịch mịch thanh vắng của thị trấn lúc này. Đã có ánh đèn hắt ra từ nhà người thợ làm bánh. Tôi ra khỏi Taubenmarkt, xuôi xuống Bậc thang nha sĩ (được gọi như vậy bởi từng có lúc, từ khi nảo khi nào, một nha sĩ đã mở phòng khám ngay ở đó), đi qua cửa hàng thực phẩm, tiệm may, hiệu chữa giày, nhà chủ trì tang lễ (đủ loại nghề nghiệp chen vai thích cánh ở đây), qua xưởng hơi đốt rồi lên một cái cầu gỗ qua bờ bên kia sông Traun. Cao hẳn phía trên cầu gỗ là cầu tàu hỏa chạy từ đông sang tay, dài phải đến vài trăm thước. Đối với tôi khi ấy, đó là cả một kỳ quan. Đến giờ, tôi vẫn có thể nghe văng vẳng tiếng ông tôi, Một công trình thiên tài, một dự đồ táo bạo. Tôi còn nhớ, những buồi chiều chán nản, tôi đã bê bao nhiêu hòn đá đặt lên đường ray này. Dĩ nhiên, chúng quá nhỏ để có thể chặn được những đầu máy khổng lồ mà tôi và lũ bạn ở trường chỉ cầu cho lao thẳng xuống vực. Chúng tôi, những tên vô chính phủ mới sáu, bảy, hay tám tuổi, hăng say thử nghiệm mưu đồ ở một khu đất thoai thoải cạnh đường tàu mang tên Dốc rượu, dành hàng giờ dưới mặt trời nung đỏ thu gom gậy, đá, đặt lên đường ray và nằm im, nín thở chờ. Những đoàn tàu cương quyết không chịu trật bánh lao xuống vực sâu. Chúng nghiến đá thành bột và hất những thanh củi gầy bay tung tóe trong khi chúng tôi núp trong bụi cây, đầu nhấp nhô quan sát. Chúng tôi thiếu sức mạnh để thực hiện mưu đồ vô chính phủ nhưng không thiếu khả năng tính toán. Có những ngày, tinh thần kém quyết liệt hơn, chúng tôi đặt những đồng xu nhỏ lên đường ray thay vì cành khô hay đá. Phấn khích xiết bao khi thấy chúng bị nén cho bẹp dí dưới sức mạnh của đoàn tàu. Muốn đạt được kết quả ấy, phải tính hết sức kỹ càng. Những đồng xu đặt kiểu gà mờ sẽ bị hất tung khỏi đường ray rồi mất hút giữa đá sỏi và cỏ dại của Dốc rượu. Thường xuyên, tôi tưởng tượng cảnh cầu xe lửa đổ sụp. Thậm chí đến hôm nay, trong nhiều giấc mơ, tôi vẫn thấy trở đi trở lại những ấn tượng hoang tàn của cây cầu - viễn kiến ngày tận thế của tuổi thơ tôi. Tôi thấy các toa hạng nhất tan tác như chỉ còn được nối bằng một sợi chỉ mỏng manh trong dòng xoáy không khoan nhượng; những xác chết cùng những kẻ đang cố bấu lấy sự sống bị cuốn phăng giữa tiếng gầm gào của sóng và tiếng hét tuyệt vọng của người. Thời điểm ấy, cầu xe lửa là công trình kỳ vĩ nhất tôi được chiêm ngưỡng. Chỉ cần gài một gói thuốc nổ nhỏ vào dầm đường ray rồi kích nổ, toàn bộ khối rắn chắc sẽ tan tành. Đó là những gì ông nói. Giờ tôi biết ông đã đúng: để phá hủy cây cầu, chỉ cần một pound chất nổ. Cái ý nghĩ một gói thuốc nổ không lớn hơn quyển Thánh kinh đọc trong nhà là đủ làm đổ sụp cả cây cầu dài hơn trăm thước khiến tôi bồn chồn phấn khích hơn bất cứ điều gì khác. Nhưng, ông nói, sẽ phải dùng điều khiển từ xa để kích nổ, nếu không mạng sống của chính tôi cũng tiêu tùng. Ông thường nói, Các tay vô chính phủ là muối của đất. Câu nói ấy kích động tôi khủng khiếp, làm tôi không lúc nào yên. Đây chỉ là một trong các nhận xét thông thường của ông, toàn bộ ý nghĩa của chúng - tầm vóc đích thực của chúng - mãi sau này tôi mới dần dà hiểu được. Cây cầu tàu hỏa bắc qua sông Traun mà tôi chiêm ngưỡng từ bên dưới như chiêm ngưỡng sự vĩ đại của chính tôi - tất nhiên ghê gớm hơn Chúa nhiều bởi, trong đời, tôi chưa bao giờ dành cho Chúa vị trí nào đáng kể - là thứ kỳ vĩ nhất tôi biết cho tới thời điểm ấy. Chính vì thế, tôi chưa bao giờ thôi nung nấu ý định làm nó phải tan tành. Ông đã chỉ cho tôi mọi phương cách có thể để thực hiện điều này. Nếu muốn, ta có thể phá hủy bất cứ thứ gì bằng thuốc nổ. Trên lý thuyết, ngày nào ông cũng phá hủy tất cả mọi thứ, cháu hiểu chứ, ông nói. Trên lý thuyết, ông nói, hoàn toàn có thể phá hủy tất cả mọi thứ, bất cứ khi nào ta muốn - phá hủy, làm đổ sụp, quét sạch không còn một chút gì. Ý này, đối với ông, kỳ diệu hơn hết thảy. Tôi đã biến cái ý ấy thành của mình, và cả đời, tôi đã xoay đi xoay lại, vờn nghịch nó, chơi với nó. Tôi giết chóc. Tôi phá hủy. Bất cứ khi nào tôi muốn. Nhưng lý thuyết chỉ là lý thuyết, ông luôn nói, vừa nói vừa châm tẩu. Dưới bóng cây cầu tàu hỏa nơi từng châm ngòi cho những ý hướng vô chính phủ của tôi, tôi đi tìm ông. Đối với mỗi chúng ta, người ông là người thầy, là nhà triết học đích thực. Chính họ kéo tung tấm rèm những kẻ khác luôn cố đóng kín. Khi ở cùng họ, ta thấy mọi thứ đúng như chúng là - không chỉ khán phòng mà cả sân khấu cùng toàn bộ những gì diễn ra sau cánh gà. Suốt hàng nghìn năm, những người ông đã đảm nhận nhiệm vụ tạo ra quỷ ở những nơi vốn chỉ có Chúa. Thông qua họ, ta thấy vở kịch đầy đủ, không chỉ một mảnh thảm hại bị tỉa khỏi chỉnh thể. Và ta thấy, không thể khác, thuần một tấn hề. Người ông hướng đầu óc đứa trẻ vào nơi ít ra cũng có điều gì thú vị để nhìn, dẫu không phải lúc nào cũng dễ hiểu; và bằng cách không chấp nhận điều gì trừ cái cốt yếu, họ cứu ta khỏi sự nghèo nàn đờ đẫn của tinh thần mà nếu không nhờ họ, hẳn sẽ làm ta chết ngạt. Ông ngoại là người đã cứu tôi khỏi những hôi thối chán chường của bi kịch thế giới này, thứ đã dìm cả triệu triệu người ngộp thở. Trước khi quá muộn, ông lôi tôi khỏi bãi lầy phổ quát, trước tiên là cái đầu, dẫu phải dùng đến những kỷ luật gay go. Trước khi quá muộn, ông kéo sự chú ý của tôi vào việc con người được phú cho một cái đầu, và ông cho tôi thấy điều đó quan trọng đến đâu. Ông dạy tôi rằng khả năng di chuyển phải được trợ lực, càng sớm càng tốt, bằng sự suy tư. Và như thế, đêm nay, đến Ettendorf tìm ông, tôi như đang leo lên ngọn núi thiêng. Vượt hẳn khỏi vùng bằng phẳng đờ đẫn bên dưới, tôi bỏ lại sau lưng mọi sự bần tiện, bẩn thỉu, những gì chỉ khiến tôi lộn mửa. Tôi bỏ lại sự hôi thối lưu cữu của một thế giới bức bí hoàn toàn bị chi phối bởi đớn hèn và tha hóa. Dáng đi của tôi bỗng trở nên nghiêm trang, tôi hít căng làn không khí càng lúc càng thoáng đãng trên con đường leo dốc tới với ông, bậc tối cao ngự trị tâm hồn tôi. Không còn là một tên tội phạm tầm thường, một nhân cách xấu xa, bại hoại và ám muội, tôi trở thành một con người đích thực, một tạo vật mà điểm cốt yếu là lòng kiêu hãnh vô biên. Chỉ một kẻ thông minh tột bực, một kẻ được phú cho trí lực phi phàm mới biết đi xe đạp ngay từ lần thử đầu tiên và dám phi một mạch đến vùng ngoại vi Salzburg. Việc tôi thất bại khi chỉ còn cách đích một quãng chẳng hề làm lu mờ chiến tích của tôi. Đó là những suy nghĩ đã vụt qua óc tôi. Kể cả trong thất bại, sự vĩ đại vẫn không thể lu mờ. Vừa leo lên đồi, tôi vừa chuẩn bị cho cuộc gặp; càng lên cao, càng đến gần ông, tôi càng thấy rõ kỳ công của tôi. Tôi thậm chí còn chẳng mệt. Tôi quá phấn khích. Điều duy nhất có ý nghĩa là phải luôn động, không bao giờ tĩnh, không bao giờ để mình lịm vào đờ đẫn ù lì. Điều này, chính ông nói, tôi luôn ghi nhớ; cho đến giờ, câu nói ấy vẫn xác định cách sống của tôi. Tôi liên hồi nhắc lại nó trong đầu mỗi bước lên cao. Ta phải luôn nung nấu thực hiện điều gì đó, bất kể là gì, nhà hiền triết trên đỉnh núi đã tuyên bố. Con người trong thể động là vị thánh đích thực, kể cả nếu cả thế giới coi hắn là tội phạm. Thế giới vốn đã tha hóa, đầy rẫy những sự tởm lợm thối tha. Kể cả tội, bất cứ tội gì, cũng còn hơn sự tĩnh và ù lì tuyệt đối, thứ đáng cho ta căm thù hơn hết thảy. Tôi đã thực hiện một chiến tích khiến tôi đặc biệt tự hào dẫu tôi chọn một thời điểm đặc biệt để kể với ông về nó. Tôi chuẩn bị câu chuyện của mình cho đến chi tiết nhỏ nhất. Từ khi còn cách nhà vài trăm thước, tôi đã bắt đầu phác ra các chi tiết trong đầu. Ông tôi thích nói năng phải mạch lạc, đúng trọng tâm. Ông ghét những mào đầu, ngoại đề, cùng tất thảy những sự lòng vòng mà phần còn lại của thế giới vẫn quen sa vào khi có chuyện phải kể. Ông không chịu được sự tràng giang đại hải của những kẻ xung quanh, những tên ngẫn chỉ biết ấm ớ và chắc chắn sẽ chỉ nhận được sự khinh bỉ nếu cả gan bập bẹ với ông điều gì. Ông căm ghét sự lải nhải, điều đó tôi rõ lắm. Những kẻ được giáo dục không đến nơi đến chốn thường cố thêm mắm thêm muối vào những món nặng bụng đã để đến thối thiu, ông nói. Vậy mà quanh ông nhung nhúc những kẻ có học nửa mùa, phải nghe chúng lải nhải khiến ông điên tiết. Đến những ngày cuối đời, ông vẫn căm thù sự nói năng không đến đầu đến đũa của chúng. Ông nói, được nghe tiếng phát ra từ một tâm hồn bộc trực là một ân phước. Anh ta chỉ nói chứ không lải nhải. Càng được giáo dục cho lắm, người ta càng lải nhải lòng vòng đến thối um. Tôi đã để những lời này làm kim chỉ nam cho mình. Ta có thể nghe một thợ nề hay một tiều phu nói, nhưng một kẻ học cao thì không thể-về cơ bản, bất cứ kẻ có học nào cũng vậy. Một người được giáo dục đến nơi đến chốn hiếm lắm, chẳng có đâu. Bất hạnh là, bọn chuyên lải nhải cứ lải nhải liên hồi, nói hoài nói hủy; những người khác im lặng vì họ biết rõ đâu có bao nhiêu điều để nói. Tôi đã đến được đỉnh núi thiêng. Bình minh khiến sự đến nơi của tôi bồng bềnh như kịch. Nhưng tôi vẫn chưa dám vào. Còn chưa tới bốn giờ sáng. Tôi không thể, không được phép trình diện lúc này. Làm thế sẽ hủy hoại toàn bộ dự đồ của tôi. Tôi tính toán thật cẩn thận: nếu bây giờ gọi ông bà dậy, tôi sẽ lập tức đặt mình vào thế bất lợi. Hành xử thiếu lễ độ luôn gây khó chịu, và một lần nữa tôi sẽ biến mình thành kẻ tội đồ. Căn nhà nơi ông bà tôi đã sống vài năm thuộc về một nông dân. Ông ta có sáu hay bảy con bò, tự mình trồng trọt trên thửa đất nhỏ cùng bà vợ dáng đi lúc nào cũng chúi về phía trước, vừa điếc vừa ngơ ngẩn. Qủa là thiên đường khi có ông bà sống trong một nông trang đích thực-chẳng khác nào tinh thần nằm đúng trong vật chất. Tôi yêu chuồng bò và đám vật nuôi; tôi yêu mùi nông trang; tôi yêu người nông dân và gia đình lão. Và họ cũng yêu tôi. Không, đó không chỉ là tưởng tượng của riêng tôi. Họ cho tôi xem họ vắt sữa bò; họ để tôi lùa bò ra khỏi chuồng, cho bò ăn cỏ, tôi cũng được phép chứng kiến lũ bê ra đời. Tôi đã ở đó khi họ cày ruộng, gieo hạt và thu hoạch. Mùa đông, tôi được ngồi cùng người nông dân và vợ trong phòng khách. Chẳng ở đâu tôi thấy hạnh phúc hơn. Và chính ở đây, chốn hạnh phúc của tôi, lại có ông bà tôi sống, ngay tầng một. Điều đó làm hạnh phúc của tôi được hoàn toàn. Từ đây, tầm mắt có thể phóng tới tận chân dãy Bavarian Alps, Hochfelln, Hochgern và cả Kampenwand. Bên dưới, tôi đã biết, là Chiemsee. Ông tôi từng nói vào những ngày có gió đông, đứng trên ban công, lắng tai thật kỹ còn nghe được tiếng chuông từ Moscow đưa lại. Âm thanh ấy tôi chưa bao giờ bắt được, nhưng tôi chắc đã có những lần chúng đến với ông. Traunstein nằm trên một vùng băng tích thấp tè nhưng Ettendorf vượt lên cao hẳn. Từ đỉnh núi trí tuệ, ta phóng mắt xuống dải đất trưởng giả bằng phẳng thấp kém, nơi, ông nói, Công giáo vung vẩy cây quyền trượng ngu xuẩn của nó. Tất cả những gì bên dưới Ettendorf chỉ xứng đáng bị khinh bỉ. Tinh thần của hạng tiểu tư sản: tinh thần của sự bần tiện, nhỏ mọn và, về cơ bản, sự ngu. Lũ chủ tiệm, ông nói, dấm dúi túm tụm như lũ cừu quanh nhà thờ và be be đến khi tắt thở, hết ngày này qua ngày khác. Chẳng có gì, ông nói, khiến ta buồn nôn hơn một thị trấn nhỏ, và kiểu thị trấn tỉnh như Traunstein là thứ đáng tởm hơn hết. Chỉ cần dúng mình vào đó vài thước, ta đã bị ô uế toàn thân; chỉ cần nói vài câu với cư dân, ta đã phải tìm cách nôn ra bằng hết. Hoặc một vùng quê đúng nghĩa, hoặc một thành phố đích thực - đó là quyết định không suy suyển của ông. Bất hạnh là con rể ông, người giám hộ của tôi, chỉ có thể tìm được việc làm ở Traunstein, và do đó, theo cách ông nói, tất cả chúng tôi phải chịu cảnh ngoi ngóp trong bầu không khí tởm lợm này. Tất nhiên, ông sống ở Ettendorf, nhưng nếu phải chui rúc ở Traunstein...không, thà tự tử còn hơn. Ông đã nói vậy khi cùng tôi đi dạo. Đối với ông, tự tử là một trong những từ tự nhiên nhất. Thường xuyên được thốt ra từ miệng ông, nó đã trở thành quen thuộc với tôi từ thơ ấu. Tôi dầm mình trong khí hậu nó tạo ra. Chẳng cuộc đối thoại nào, chẳng lời khuyên nào của ông cuối cùng không dẫn đến kết luận rằng tài sản quý giá nhất của một người là tự do đoạn tuyệt với thế giới bằng cách tự tử, tự do kết liễu đời mình bất cứ khi nào anh ta muốn. Chính ông, cả đời, đã nghiền ngẫm chủ đề này; ông đẩy suy tư về nó đến tận cùng, và tôi, đến lượt mình, đã nhận lấy nó. Bất cứ thời điểm nào, bất cứ khi nào ta muốn, ông nói, ta có thể tự tử-tốt nhất là tự tử một cách càng mỹ thuật càng hay. Cái ý rằng ta có thể biến mình thành hiếm, ông nói, là ý kỳ diệu nhất trên đời. Cha cháu, ông nói, (những khi ông bỗng chốc yêu quý người mà bình thường ông luôn gọi là "người giám hộ của cháu"), là người kiếm tiền nuôi cả nhà; cháu và mẹ phụ thuộc vào cha-có những lúc tất cả chúng ta đều phụ thuộc vào cha cháu. Chúng ta phải chấp nhận sự thật là để nuôi cả nhà, cha cháu phải sống ở một nơi tởm lợm như Traunstein. Không còn cách nào. Chúng ta là nạn nhân của thất nghiệp. Đây là công việc duy nhất cha (người giám hộ) cháu có thể tìm được ở Đức và Áo. Những đầu óc tỉnh lẻ này, ta mới căm ghét chúng làm sao! Ta khinh bỉ hết thảy bọn chúng! Nhưng ta sẽ không tự giết mình - không đời nào ta làm thế chỉ vì hạng người chỉ có tấm thân gỗ nối hai chân nhưng không có đầu ấy. Ông chỉ hạ cố xuống Traunstein khi mẹ tôi mời ông đến dùng bữa. Trong tất cả phụ nữ tôi từng biết, mẹ là người nấu ăn ngon nhất. Ẩm thực bourgeois và những thức cây nhà lá vườn luôn là những từ khiến tôi lạnh gáy, nhưng những món mẹ nấu thuộc loại khác hẳn. Và như thế, hai ba bận mỗi tuần, ông bà tôi lại có dịp xuống Traunstein, nơi cả hai ghét cay ghét đắng, để thưởng thức một bữa cốt lết bê, đồ nướng, hay bánh strudel phô mai. Từ Ettendorf, hai người già tìm đường xuống Traunstein, đầu ngẩng cao kiêu hãnh. Vợ chồng người nông dân có một đứa cháu trai trạc tuổi tôi sống trong một phòng tầng trệt. Tên hắn là Georg dù tất cả mọi người đều gọi hắn là Schorschi. Hắn không học ở Traunstein mà ở một trường tiểu học tận Surberg. Đối với tôi, thằng nhóc này có một sức hút lớn, thêm vào những điều khác, thành thử khi ở Traunstein, tôi chỉ mong ngóng đến Ettendorf. Schorschi rất sáng dạ. Hắn sùng kính ông tôi và nuốt ừng ực tất cả những lời từ miệng ông thốt ra. Ông tôi cũng yêu hắn. Giống tôi, hắn lớn lên không có cha, chỉ sống với ông bà. Người ta nói cha hắn đôi khi còn đến thăm chứ mẹ thì biệt tăm biệt tích, tôi cũng không biết gì về bà ấy cả. Vợ chồng người nông dân nuôi nấng hắn theo đúng cung cách nhà quê, tối giản sự giáo dục đến mức gần như thiếu thốn. Ngoài giờ học, Schorschi còn phải làm việc, nhưng hắn làm rất chăm, một tay đỡ cho không biết bao con bê ra đời. Hắn khỏe hơn tôi, giống ông hắn như lột, tóc vàng bợt, và, không giống tôi, hắn rất giỏi tính cộng. Hắn có thể thực hiện bất cứ phép cộng nào trong chỉ vài giây. Mùa đông, nếu không ở cùng ông bà trên lầu một, tôi sẽ xuống tầng trệt với hắn và ông bà hắn; thực tế là, khi ông tôi làm việc, ông bà chỉ muốn tống tôi xuống lầu. Schorschi là bạn, đồng chí, người bầu bạn thân thiết của tôi ngoài ông. Lần cuối tôi gặp hắn là vài năm trước. Lúc đó, cả hai chúng tôi khoảng bốn lăm tuổi. Schorschi bấy giờ đã phát điên, hai năm không rời khỏi ngôi nhà thừa kế từ ông bà. Ông ta cấm kẻ nào bén mảng đến lãnh địa của mình trên tầng một, nơi ông bà tôi từng sống. Ông ta đã để tóc hai năm không cắt và đã quên hoàn toàn cách giao tiếp. Nhưng thấy tôi, một nét mừng rỡ thoáng hiện trên mặt ông ta, rồi ông ta lầm bầm vài tiếng tôi không hiểu. Ông ta mở một chai Traminer mà sau đó chúng tôi uống cạn, im lặng phần lớn thời gian. Ông ta cứ nhắc đi nhắc lại rằng mình vẫn có thể thấy ông ngoại tôi ngay trước mặt, rằng mình yêu và kính trọng ông hơn bất kỳ ai. Những lời thẳng băng của ông ta trong cảnh suy tàn khiến tôi hổ thẹn. Tôi nói về mình, nhưng điều đó chẳng có ý nghĩa gì với ông ta. Chỉ là sự lảm nhảm thừa thãi, vô giá trị. Ông, tôi nghĩ, vẫn giữ được cái đầu sáng suốt dẫu thân thể kiệt quệ trong khi ông ấy đã trở thành một người ngơ ngẩn, đờ đẫn, chẳng bao lâu hồn sẽ lìa khỏi xác. Trong đáy mắt ông ấy, tâm hồn chỉ họa hoằn lóe lên rồi tắt lịm. Cuộc gặp lại Schorschi là một cảnh ghê rợn nhưng tôi sẽ vẫn thuật lại ở đây. Khắp nhà, những mạng nhện dài hàng thước chăng đầy. Mùi thối rữa trùm lên từng lời, từng cảm giác. Cha ông ta đã treo cổ sau khi phải thanh lý việc kinh doanh điện ở Munich và điều đó hủy hoại cuộc đời người con. Ông bà ông ta đã qua đời, ngôi nhà cùng đồ đạc đổ nát hư hỏng cả. Tôi không thể tin vào mắt mình: quanh ngôi nhà từng được chăm chút đến thế giờ là cả trăm chiếc xe thải nằm chen chúc chờ tới số. Hai người đàn ông, râu tóc phủ rậm rịt gần kín mặt, áo cứng ngắc vì bùn đất lập tức trỏ ngón tay trỏ vào thái dương khi tôi hỏi thăm Schorschi. Họ nói suốt hai năm nay ông ta không hề rời tầng một. Họ mang thức ăn đến nhưng không được phép bước vào lãnh địa của ông ta. Ông ta vẫn là chủ ngôi nhà dù về mặt pháp lý, đáng ra ông ta phải bị tước quyền từ lâu vì không đủ năng lực sở hữu. Họ cảnh báo nhưng tôi vẫn lên thẳng tầng một. Mở cửa là một con quái vật tua tủa râu tóc cùng bụi bặm, song đôi mắt vẫn là của Schorschi yêu quý. Thoạt đầu ông ta không nhận ra tôi, tôi phải nhắc lại Thomas đến ba lần ông ta mới hiểu. Một con người sẽ trông như thế này đây, tôi nghĩ, khi anh ta đã từ bỏ tất cả nhưng vẫn chưa xong việc với chính mình. Người cha đã xong còn ông ta thì chưa, có lẽ chính vì người cha đã xong nên ông ta mới chưa xong được. Vừa nghĩ, tôi vừa nhìn, xuyên qua hình hài ghê rợn Schorschi đã trở thành, tuổi thơ của chúng tôi. Nó vẫn ở đó, còn sống. Tôi thấy tôi đang nhìn qua cửa sổ phòng ngủ bạn. Hắn lúc nào cũng vậy, nằm xuống là ngủ liền, mệt rũ vì cả ngày làm việc cật lực. Tôi có nên gõ cửa không? Tôi gõ. Schorschi mở cửa sổ. Cảnh ấy tôi vẫn thấy rõ mồn một. Hắn chạy ra mở cửa chính. Tôi bước vào căn phòng lạnh căm, ngồi xuống và kể cho hắn câu chuyện của tôi. Tác động nó tạo ra ghê gớm đúng như tôi mong đợi. Sát sàn sạt Salzburg, tôi nói, Chưa đến, nhưng gần lắm rồi. Tôi nói tôi đã thấy ánh đèn của Salzburg, chỉ không nhớ địa chỉ nhà mợ Fanny. Những gì tôi kể khiến hắn thán phục vô biên, và mỗi ngã rẽ của câu chuyện càng kích động hắn. Dĩ nhiên chưa bao giờ hắn được cưỡi một chiếc xe đạp Steyr-Waffen. Nhảy lên xe rồi đạp thẳng-cảm giác ấy hẳn đê mê biết chừng nào! Tôi thích thú nghe câu chuyện chảy ra từ miệng mình cứ như thể nó được một người khác kể. Chuyện càng kể càng hay, tôi phấn khích đến nỗi đã không chỉ thêm mắm thêm muối cho thi vị mà còn bịa ra không ít chi tiết vốn không hề có. Ngồi trên chiếc ghế đẩu bên cửa sổ, đối diện giường Schorschi, tôi sáng tác một câu chuyện kịch tính mà tôi tin chắc sẽ được coi là một sáng tạo nghệ thuật đích thực dẫu các tình tiết và sự kiện của nó là thật. Tôi nán lại ở một số khía cạnh, tô đậm điểm này, làm mờ điểm khác, chỉ cốt đẩy lên cao trào, không bao giờ cố đoán trước những đoạn cốt yếu và luôn thấy mình là nhân vật trung tâm vở kịch. Tôi biết điều gì sẽ gây ấn tượng cho Schorschi, điều gì không, và dựa vào đó, tôi xây dựng màn biểu diễn. Tất nhiên tôi không thể nói quá to để không làm kinh động những người khác trong nhà. Đến sáng bảnh vở kịch mới hạ màn. Ở đoạn kết, chỉ bằng vài câu ngắn ngủi, tôi đã chuyển hóa được thất bại thảm hại của mình thành một kỳ tích. Tôi đã thành công: sáng hôm ấy, Schorschi hoàn toàn bị thuyết phục rằng tôi là một anh hùng. Ông ngoại chào tôi, nét mặt nghiêm khắc nhưng đồng thời lại bóp chặt tay tôi như muốn nói, Không sao. Dù chuyện gì xảy ra, cháu vẫn được tha thứ. Bà ngoại nấu một bữa sáng ngon lành-tôi luôn yêu các bữa sáng của bà hơn hết. Hai người không hỏi nhiều nhưng hài lòng vì thấy tôi đang ở đây, tôi vẫn khỏe. Ông đứng dậy để tiếp tục công việc - cuốn tiểu thuyết của ông. Những từ này gợi cho tôi một cảm giác vừa khủng khiếp vừa choáng ngợp như với một công trình kỳ vĩ. Buộc tấm chăn ngựa quanh mình bằng một chiếc thắt lưng da, ông ngồi vào bàn. Bà đứng dậy, đóng cánh cửa lót nệm lại. Khi còn nhỏ tôi đã luôn có ấn tượng rằng ông bà tôi sống với nhau hoàn toàn viên mãn. Và họ cứ hạnh phúc như thế cả đời. Hôm ấy, ông bà được mời dùng bữa tối ở chỗ mẹ tôi. Đối với tôi, đây quả là một sự may mắn. Níu tay ông, đi giữa ông và bà, cảm thấy được bảo vệ đến mức tối đa, tôi men dốc xuống Traunstein. Tôi tin chắc mình sẽ chiến thắng. Từ Ettendorf đến Traunstein, đầu tôi ngẩng cao chứ không cúi gằm như trên đường lên trước đó vài giờ. Mẹ làm sao đọ được với tôi. Trong những vụ tương tự vụ chiếc xe Steyr-Waffen này, mẹ luôn cho tôi ăn đòn quắn đít với chiếc roi gác trên nóc tủ bếp. Lần nào cũng vậy, tôi chui tọt vào xó bếp hay góc phòng khách thủ thế, kêu la cầu cứu om sòm, vừa đưa cả hai tay lên bịt đầu vừa tự nhủ mình đang diễn một màn tuyệt đỉnh. Động một chút là mẹ rút roi. Vì sự đau đớn thân xác đối với tôi hoàn toàn vô hiệu-điều này mẹ biết rõ-mẹ luôn bức tôi phải quỳ gối bằng cách thốt ra những lời lần nào cũng khiến tôi đau đớn tột cùng. Mẹ sẽ nói, chẳng hạn, Thế mà tao đã chẳng cần gì ngoài mày hay Mày là cội nguồn bất hạnh của tao. Khốn kiếp! Mày đã hủy hoại đời tao. Mày phải chịu trách nhiệm cho mọi thứ. Vì mày mà tao không còn đường sống. Mày chẳng là cái thá gì, tao phát nhục vì mày! Mày cũng vô dụng hệt cha mày. Lũ khốn nạn! Đồ dối trá! Đây chỉ là một phần nhỏ những lời nguyền rủa mẹ trút lên tôi, nhưng càng chửi mắng, mẹ càng chứng tỏ mình bất lực với tôi đến độ nào. Mẹ luôn khiến tôi cảm thấy rằng cả đời mình, tôi luôn đứng chắn giữa mẹ và hạnh phúc. Ở tôi, mẹ thấy cha, người tình đã bỏ rơi mẹ. Ở tôi, mẹ thấy quá rõ người đàn ông bội bạc đã hủy hoại mẹ. Tôi giống cha như lột, điều này tôi biết vì từng thấy một tấm ảnh của cha. Sự giống nhau giữa chúng tôi thật đáng kinh ngạc. Khuôn mặt tôi không chỉ có nét giống ông: vấn đề nằm ở chỗ đó là một khuôn mặt, được mang bởi hai người. Nỗi thất vọng lớn nhất đời mẹ, thất bại ghê gớm nhất là sự xuất hiện của tôi trong câu chuyện. Chừng nào tôi còn sống cùng mẹ, mẹ còn phải ngày ngày đối mặt với thất bại này. Dĩ nhiên tôi cảm nhận được tình yêu mẹ dành cho tôi, nhưng tôi cũng cảm thấy sự căm hận của mẹ đối với cha, nó đứng chắn đường tình mẫu tử. Tình yêu của mẹ đối với tôi, đứa trẻ vô thừa nhận, luôn bị lòng căm hận đối với cha nó bóp ngạt, không bao giờ cho phát triển tự nhiên. Thực tế, người mẹ nguyền rủa đâu phải tôi mà là cha tôi, kẻ đã bỏ rơi mẹ, dù vì lý do gì; khi rút roi ra, mẹ không đánh tôi mà đánh tác giả nỗi bất hạnh của mẹ. Cú vụt không chỉ dành cho tôi; lần nào mẹ cũng đồng thời nhắm vào cha, người chưa bao giờ được ai nhắc đến, kể cả ông ngoại. Con người ấy không tồn tại-không có ai như vậy hết. Chẳng bao lâu tôi cũng thôi hỏi về cha. Những câu hỏi của tôi luôn khiến người lớn nổi giận; dù tâm trạng lúc đó thế nào, những thắc mắc về cha lần nào cũng khiến họ lập tức mặt mũi sa sầm. Cha tôi hẳn là một tên tội phạm hiểm độc vô biên, chiểu theo những gì tôi nghe kể về ông. Tôi yêu mẹ vô cùng, mẹ cũng yêu tôi như thế; nhưng ít nhất chừng nào mẹ còn sống, sự phát triển của tình yêu này sẽ luôn bị ngăn trở bởi con quỷ tôi chưa bao giờ gặp. Người đàn ông vô hình mà đặc điểm duy nhất dường như là sự đê tiện và quỷ quyệt này là kẻ không ngừng phá tan hạnh phúc. Thư từ dằng dặc, phải - nhưng tột cùng đê tiện. Hứa hẹn lên mây, phải-nhưng toàn dối trá. Cha mày là bậc thầy của đúng một thứ - nghệ thuật nói dối! Đó là tất cả những gì mẹ nói với tôi. Nhưng điều khiến tôi băn khoăn là vì sao ông ngoại cũng không nói. Đến giờ tôi vẫn băn khoăn. Thiên tài, nhưng thối nát đến tận gốc rễ! mẹ thường rủa. Ở Frankfurt an der Oder, cha mày còn đúc thêm năm đứa nữa, chằn chặn một khuôn giống hệt mày! Và cứ thế... Tôi đã thoát sự tra tấn của ngọn roi, ít nhất là lúc này. Ông ngoại đẩy tôi qua trước mặt mẹ, vào chỗ thường gọi là phòng khách, ở đó bữa ăn đang đợi. Chúng tôi ngồi xuống. Mẹ run lên vì giận dữ khi chúng tôi dùng bữa trong im lặng nhưng tôi thấy rõ mẹ bất lực đến chừng nào, rằng tôi yêu mẹ biết bao và mẹ cũng yêu tôi nhiều như thế. Đến một lúc, mẹ bỗng nói mẹ đã báo cảnh sát. Và đã làm kinh động cả khu. Buổi sáng, xuống lầu, mẹ phát hiện cái xác xe đạp tồi tàn dựng ép vào tường. Thực thảm hại! Đã thế tôi còn dám bỏ học. Tôi là giống vô tích sự, ngữ như tôi sau này làm được đến thợ nề là hết nấc. Lúc nào mẹ cũng lôi chuyện làm thợ nề ra dọa tôi, đó là một trong những vũ khí lợi hại nhất của mẹ và đối với tôi luôn công hiệu. Mẹ nói đúng rồi còn gì, tôi buồn rầu ngẫm nghĩ, ở trường mình đúng là đứa đội sổ, trong mắt các thầy, mình chỉ là một thằng óc bã đậu. Tôi không làm nổi phép tính cộng đơn giản nhất, bài tập chính tả bao giờ cũng sai be bét và nhiều khả năng tôi sẽ phải đúp năm nay. Tôi chẳng hứng thú chút nào với những gì được dạy, tôi ngán chúng đến tận cổ và do đó không thèm chuyên chú làm gì, điều này ai cũng biết thừa, nhất là các giáo viên. Ông chỉ bảo tôi rằng tôi phải lên được lớp, kết quả ra sao không quan trọng. Ông không quan tâm đến điểm số. Tôi phải qua được ải, ngoài ra không cần gì. Nhưng giờ tôi tự hỏi liệu mình có làm nổi cả việc lên lớp hay không. Cuối cùng tôi được cứu nhờ phép màu: dẫu cả năm tôi bị chấm không đạt hoặc chỉ vừa vặn đạt, cuối năm, bằng cách nào đó, tôi vẫn lên được lớp. Tôi đặt toàn bộ niềm tin vào cơ chế màu nhiệm ấy. Ông dường như cũng tin giống như tôi. Đối với ông, việc liệu tôi có lên được lớp không - câu hỏi luôn được đặt ra mỗi lần ông bà đến dùng bữa - là một vấn đề không tồn tại. Ông quả quyết tôi là đứa trẻ không tầm thường, chỉ giáo viên là không nhận ra điều đó. Người ngu là bọn họ chứ không phải tôi. Tôi mới thực sự có trí tuệ, còn họ là một lũ philistine. Lần nào ông bà đến, chuyện học hành của tôi cũng được khơi lại cho đến khi ông chấm dứt sự luận bàn vô nghĩa bằng cách khẳng định tôi là một thiên tài. Lần này, vì lỗi - đúng hơn là tội - của tôi quá khủng khiếp, chẳng ai dám nhắc đến chuyện trường lớp. Ai cũng cẩn thận để không đụng đến chủ đề lớn của ngày hôm ấy. Ngoài câu nói của mẹ về việc báo cảnh sát và đánh động khu phố, tôi không được nhắc nhỏm lần nào. Tôi không nhớ mọi người đã nói những gì nhưng chắc chắn không có câu nào về tôi. Mẹ không giỏi dạy dỗ tôi. Thái độ của ông, lần này cũng như những lần khác, xét một cách khách quan, chỉ khiến tình hình thêm tệ hại. Ông yêu sự hỗn loạn; ông là người vô chính phủ, dù chỉ trong tinh thần. Mẹ tôi, ngược lại, cả đời chỉ cố tìm một chỗ đặt chân không quá tròng trành trong thế giới của tầng lớp trung lưu bậc thấp - niềm mong mỏi nhỏ nhoi đến cuối cùng vẫn không đạt được. Ông tôi mê đắm bất cứ điều gì khác thường, kỳ vĩ, những thứ sục sôi mâu thuẫn cùng tinh thần cách mạng. Mâu thuẫn làm ông bùng cháy, xung đột là chất sống cho toàn bộ tồn tại của ông. Trong khi đó, mẹ chẳng cần gì ngoài cái ổn định của sự bình thường. Cả đời mẹ thèm thuồng một gia đình hòa hợp, hạnh phúc. Mẹ đã phải chịu đựng những cuộc nổi loạn tinh thần và trí tuệ của cha mình - những cuộc vượt ngục luôn đẩy mẹ vào tột cùng kinh sợ. Cả đời mẹ sùng bái ông ngoại, đồng thời chẳng mong gì hơn trốn khỏi ảnh hưởng trí tuệ của ông - đối với mẹ, đó là cội nguồn của hỗn loạn và rồi sẽ hủy hoại hết thảy. Tất nhiên định mệnh của mẹ là không thể trốn thoát. Mẹ đã nhận ra sự thật này và do đó, hoàn toàn tuyệt vọng. Từ lâu mẹ đã bỏ cuộc, không còn gắng gượng chống cự sức áp chế của trí tuệ cha mình - thứ trí tuệ đặt ra cho tất cả những ai sống quanh ông một thử thách nhọc nhằn, không ngơi nghỉ. Trong người cha hết mực thân thương là tên bạo chúa mẹ khôn cùng kính sợ, kẻ dường như chỉ ở đó để hủy hoại mẹ dẫu hắn không tự biết. Kề cận hắn, dưới trường lực của hắn, cách duy nhất để trốn thoát và tồn tại là giao nộp mình cho hắn vô điều kiện, bởi vì hắn chính là người mà ta yêu. Sự kính trọng và tình yêu đi cùng nỗi khát khao trốn thoát đối với mẹ không đủ. Mẹ mong mỏi sự bình thường dù biết rõ nó sẽ thu hẹp, làm chật chội cách sống của chúng tôi. Ông tôi chẳng có gì ngoài sự khinh bỉ và giễu cợt đối với sự bình thường. Ông đã cao chạy xa bay khỏi đó từ rất sớm. Không đời nào ông chịu ép mình trở thành một anh đồ tể lành nghề hay một tay buôn than; từ thời niên thiếu, ông đã cự tuyệt việc phải khoác lên mình bộ đồng phục của đám đông, như cách ông thường nói, và miệt mài nuôi dưỡng thái độ ấy nơi tôi. Đúng là đối với mẹ tôi, một cuộc sông bình thường hẳn sẽ giúp nhiều thứ dễ dàng hơn. Còn như hiện tại, ngày nào cũng như đi trên dây, không lúc nào không thót mình sợ rơi xuống vực. Cả gia đình chúng tôi đều là những người đi dây, bất cứ lúc nào chúng tôi cũng có nguy cơ rơi tan xác. Người giám hộ, kẻ phải kiếm tiền nuôi cả nhà, là người đến sau cùng và, dĩ nhiên, ít thuần thục nhất trong việc nhón chân trên sợi dây không ngớt tròng trành, sợi dây bắc qua một miệng vực không hề có lưới bảo vệ, chỉ sơ sẩy một li là lao mình xuống cái chết. Đây chính là điều ông muốn. Chúng tôi là một gánh xiếc, chưa một phút cho phép mình rời sợi dây tội nợ dẫu màn biểu diễn mỗi ngày lại khó thêm lên. Chúng tôi là tù nhân của sợi dây, những kẻ trình diễn nghệ thuật của sự tồn tại. Bên dưới chúng tôi, sự bình thường vẫn nằm đó, nhưng chúng tôi không dám gieo mình vào, biết rõ rằng, đối với chúng tôi, làm thế chỉ có nghĩa là chết. Người con rể, giám hộ của tôi, không còn đường quay lại. Màn biểu diễn của ông ta chỉ nhận được những nụ cười thương hại, nhưng ông ta bị kẹt trên sợi dây không lối thoát. Có quá nhiều hào hứng quan sát từ phía ông tôi và cả gia đình đối với người đàn ông không ngờ nghệch bị mẹ dẫn dụ vào cuộc chơi tử thần này. Người con rể chẳng còn cách nào, ông ta đã bị mắc vào trò đi dây và phải nhận lấy phần mình; những người khác trong đoàn dìu ông ta, hết lần này đến lần khác cứu ông ta khỏi rơi nhưng không cho từ bỏ. Song đến cuối cùng ông ta vẫn chẳng làm được gì hơn là nhón chân loạng choạng; màn biểu diễn của ông ta không có chút nghệ thuật nào. Hầu hết thời gian, ông ta chỉ dám hé mắt liếc xuống vực thẳm mà run lập cập, đôi khi để bật ra những tiếng kêu thảm thê; vậy mà bằng cách nào đó, thằng ngẫn - như cách ông tôi thường gọi - cuối cùng lần nào cũng chế ngự được nỗi khiếp đảm tê cứng, lấy lại tư thế và tiếp tục màn biểu diễn. Đoàn xiếc lợi dụng ông ta cho mục đích riêng. Họ đã thuần thục nghệ thuật đi dây và ngày qua tháng lại chỉ biết tự thán phục mình. Họ buộc phải làm vậy vì không có khán giả, chẳng ai chú ý đến tiết mục họ bày ra. Ông tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, chủ tiệm, chủ quán trọ. Cha của ông hai mươi tuổi mới bắt đầu công việc nhọc nhằn là tập viết và đã viết cho cha mình một lá thư từ pháo đài Cattaro. Ông cố cam đoan lá thư do mình tự tay viết ra, dù ông ngoại luôn nghi ngờ điều đó. Từ rất sớm, ông đã hết sức ngờ vực ý nghĩa của việc dành cả đời bưng bia cho khách, nếm bơ trên các xe cút kít nông dân và đầu cơ hết năm này qua năm khác chỉ để tích tiền. Chừng hai mươi tuổi, ông cự tuyệt mọi mối dây ràng buộc của cuộc sống quen thuộc. Người chị gái, Marie, cũng thấy rõ sự đơn điệu đờ đẫn của nếp sống ấy và đã quyết định nó không xứng với mình. Khi còn rất trẻ, bà cưới một nghệ sĩ đến từ Eger, người này sau đó trở thành một ngôi sao ở Mexico và vẫn được nhắc đến trong mục nghệ thuật của các tờ báo lớn. Bà có một cô con gái với ông họa sĩ và dành nhiều năm ở phương Đông, cắp theo đứa con đi hết pasha này đến pasha khác, hết sheikh này đến sheikh khác, hết bey này đến bey khác. Ở tuổi bốn mươi, đã xong việc với các pasha, sheikh và bey mà chẳng có gì để chứng minh cho cuộc Đông du lừng lẫy ngoài những kỷ vật úa vàng, bà đành chịu làm một diễn viên vô danh tiểu tốt ở Nhà hát hoàng gia, Vienna và được cho là rất hợp các vở khôi hài của Nestroy, thậm chí, một lần, cả Iphigenie của Goethe. Ông cố tôi xây cho người con rể đến từ Eger một xưởng vẽ đồ sộ lưng dựa vào tường đá của nhà nguyện Marienklause, gần Henndorf, mặt quay về phía hồ Wallersee; xưởng vẽ này tới nay vẫn là một công trình đáng chiêm ngưỡng với các cửa sổ kính cao đến sáu mươi foot, nơi có lần mẹ tôi đã thấy những con rắn nằm sưởi nắng. Em gái ông ngoại tôi, Rosina, chỉ ở nhà. Bà là đứa con đích thực của đồng quê, quyến luyến với cảnh thanh bình thôn dã tới mức không bao giờ dám đi xa Henndorf quá năm dặm; cả đời bà chưa từng đặt chân đến Vienna và có lẽ cả Salzburg. Khi mới ba bốn tuổi và cả sau này, tôi từng thán phục coi bà là nữ hoàng ngự trị vương quốc bao la của sự mua bán. Một người anh của ông, Rudolf, trốn vào rừng và trở thành người quản lý những dải rừng của gia tộc Uiberacker quanh vùng hồ Wallersee và Mondsee. Ở đó, vào tuổi ba hai, ông đã tự tử vì hết chịu nổi sự khốn khổ của thế giới này, theo lời ông viết trong một mẩu giấy tìm thấy cạnh cái xác được con chó dachshund canh giữ. Trừ Rosina, tất cả họ đều là những kẻ trốn chạy, những tâm hồn đã quá chán ngán nhịp điệu buồn tẻ của làng quê. Marie trốn sang phương Đông, Rudolf trốn thẳng lên thiên đường, còn ông tôi, sau một thời gian ngắn ở trường dòng, trốn sang Switzerland, nơi ông học khoa học ứng dụng và nhập bọn với những kẻ vô chính phủ cùng chí hướng. Đó là thời của Lenin và Kropotkin. Tuy nhiên ông không đến Zurich mà lại đến Basel và nuôi tóc thật dài. Trong những bức ảnh còn lại từ thời đó, ông mặc quần sờn gấu, mang cặp kính kẹp mũi đặc trưng của những người vô chính phủ. Nhưng năng lượng của ông không dồn vào chính trị mà vào văn chương. Ông sống trong ngôi nhà ngay cạnh Lou Salomé trứ danh và hằng tháng nhận bơ cùng xúc xích chu cấp bởi cô em gái Rosina. Người phụ nữ ở bên ông cả đời, sau này trở thành bà tôi, trước kia bị cha mẹ ép gả cho một người thợ may Salzburg, cuộc hôn nhân tệ hại kéo dài vài năm. Sau đó, bà bỏ chồng cùng hai đứa con, đến Basel, nơi bà gặp người đàn ông khiến bà mê đắm, thề sẽ theo ông đến cùng trời cuối đất. Chính ở Basel, mẹ tôi ra đời. Mẹ xinh đẹp từ nhỏ và đến cuối đời vẫn là một phụ nữ đẹp. Tôi vừa thán phục vừa tự hào về mẹ. Từ khi còn rất nhỏ, tôi đã cảm nhận được sự bất lực của mẹ với tôi và không ngừng lợi dụng điều đó. Mẹ chẳng còn cách nào ngoài dùng roi để trị tôi. Khi những trận mưa roi lên đầu, lên mình tỏ ra vô hiệu, mẹ viện đến những lời nguyền rủa độc địa tôi không cách nào trốn thoát. Lời nói mạnh gấp trăm lần roi vọt. Mẹ chỉ rủa xả tôi nhưng không bao giờ dạy dỗ tôi. Mẹ không có khả năng dạy dỗ bất cứ đứa con nào - cả tôi cũng như các anh chị em khác. Tôi sợ ngọn roi nhưng những trận đòn chẳng gây ra tác động đáng kể nào. Chỉ bằng những lời tàn nhẫn, mẹ mới có thể đạt được những gì mình muốn - sự bình yên và tĩnh lặng - dẫu những lời ấy lần nào cũng ném tôi vào nỗi thống khổ ghê gớm, cái hố hun hút chưa bao giờ tôi thoát được ra. Vậy mà tao đã chỉ cần mày!  Vì mày mà tao không còn đường sống! Những lời ấy hành hạ tôi cả trong mơ. Mẹ không hề ngờ tác động khủng khiếp của chúng đối với tôi. Tất cả những gì mẹ cần chỉ là xả hận. Đứa trẻ là con quái vật, loài ác ôn, đứa con của quỷ dữ. Chẳng bao giờ mẹ chấp nhận được khao khát bệnh hoạn của tôi đối với những thứ khác thường, kỳ vĩ, gây kích động. Mẹ biết mình đã sinh ra một đứa trẻ kỳ quái, rằng nó sẽ chẳng mang lại gì ngoài tai họa. Một cuộc đời tội lỗi. Chỉ cần nhìn gia đình mình là đủ rõ. Thường xuyên, mẹ bị ám ảnh bởi em trai, cậu tôi, một thiên tài cuối cùng bị hủy hoại bởi chính ngọn lửa nội giới, theo lời ông ngoại. Mẹ hình dung tôi trong đủ loại trường giáo dưỡng và nhà lao; chẳng có cách nào cứu tôi; tôi là đứa nghịch tử số phận đã định sẽ quy thuận quỷ dữ. Mẹ có niềm tin tôn giáo của riêng mình, hẳn nhiên không hoàn toàn là Công giáo - điều đó là bất khả khi có một người cha tuyệt đối khinh bỉ Công giáo như mẹ. Đối với ông ngoại, Giáo hội Công giáo là thứ phong trào quần chúng nhảm nhí bậc nhất, một tổ chức sinh ra để lừa mị con người ở mọi xó xỉnh trên trái đất, lợi dụng họ để làm giàu riêng. Theo ông, Giáo hội trâng tráo rao bán một món hàng không tồn tại, Chúa của cái thiện, đồng thời cũng là Chúa của cái ác. Ông tin rằng Giáo hội đã khai thác những người bần cùng nhất địa cầu, hàng triệu người, với mục đích duy nhất là tích lũy số tài sản sau đó được đem đầu tư vào đủ ngành công nghiệp cũng như các núi tiền cùng cổ phiếu ở các ngân hàng khắp thế giới. Bất cứ kẻ nào bán những món hàng không tồn tại cũng bị tố cáo và xét xử, ông tôi nói - riêng Giáo hội cứ mặc nhiên rao bán Chúa cùng Đức Thánh Linh mà chẳng bị tội gì. Mẹ tôi là một tín đồ. Bà không tin Giáo hội, có lẽ cũng chẳng tin Chúa, thứ mà cha bà, cả đời, không ngừng khẳng định là đã chết. Nhưng bà tin. Bà ngoan cố bấu lấy niềm tin của mình, dù càng lúc nó càng làm bà thất vọng, như chuyện xảy ra với mọi tín đồ... Hết bữa ăn, tôi còn nhớ mồn một, vụ việc của tôi cuối cùng cũng được mang ra xét xử. Ông ngoại bắt đầu với một bài bào chữa dài. Trường học chẳng là cái thá gì, cho nên việc tôi trốn học không cần xét tới. Trường học nói chung, đặc biệt là trường tiểu học, là những thiết chế quái vật hủy hoại các mầm non trước khi chúng kịp trưởng thành. Trường học giết chết lũ trẻ. Đặc biệt trong các trường nước Đức này, sự ngu là luật, sự trì độn đờ đẫn là kẻ dẫn đường. Nhưng vì luật pháp bắt buộc phải gửi trẻ đến trường, ta đành tuân theo dẫu biết làm thế là hủy hoại chúng. Giáo viên là hạng giẻ rách, ông tuyên bố. Chúng chẳng dạy gì ngoài cách làm sao để trở nên bần tiện. Chúng là hóa thân của ô nhục. Thay vì đến trường, ông nói, ông thà cháu mình đến ga tàu, mua vé đi Rosenheim, Munich hay Freilassing. Ít ra điều đó còn có ích với thằng bé, ông nói. Trường lớp chẳng được tích sự gì. Giáo viên là lũ bần tiện hàng nhất! Bao nhiêu chì chiết của vợ con, chúng đổ hết lên đầu bọn trẻ. Ta lúc nào cũng căm ghét bọn nhà giáo. Đáng kiếp cho bọn chúng, ta chưa từng gặp ông thầy nào cuối cùng không lòi ra cái đuôi bẩn tưởi. Lũ cảnh sát và thầy giáo lúc nhúc khắp nơi, chúng đi đến đâu là thối hoăng đến đó. Nhưng không có cách nào trừ khử hết bọn chúng được. Ông thầy, ông nói, sinh ra chỉ để làm tha hóa đầu óc học trò. Ta gửi lũ trẻ đến trường chỉ để một ngày chúng trở nên đáng tởm như đám người lớn ngày ngày ta phải chạm mặt trên đường - cặn bã của nhân loại. Tất nhiên, trốn học gây rắc rối không nhỏ cho những người mà nghĩa vụ là đảm bảo lũ trẻ đến trường. Chỉ cần một lời giải thích đơn giản là xong! ông nói. Một cơn đau họng kịch phát chẳng hạn! ông tuyên bố rồi quay sang hỏi tôi có gặp ai có thể tố cáo tôi không. Tôi lắc đầu. Mẹ cứng đờ ngồi đối diện tôi và ông. Ông khen ngợi bữa ăn, còn bà nói lâu lắm rồi mới ăn ngon đến vậy. Sao phải chạy ngay đi tìm cảnh sát? ông hỏi. Những cuộc đào thoát của tôi đâu phải chuyện gì mới. Tôi vẫn thường không về nhà đúng giờ, nhưng cuối cùng tôi vẫn về. Một đứa như thế là thiên tài, ông thốt lên, tất nhiên nói về tôi. Nó làm những việc bọn khác không làm nổi. Xe đạp hư thì sửa - chuyện vặt. Ít nhất bây giờ nó đã biết đi xe. Cái đó mới quan trọng, ông nói. Chỉ cần nghĩ tới đủ thứ hay ho mà một người đi xe đạp có thể làm. Con không biết đi xe, bố cũng không, ông nói với mẹ. Đến bà của bố cũng chịu chết. Emil, người giám hộ tôi, đi vắng còn chiếc xe thì cứ rỉ đi trong trong xó nhà. Thật là một ý hay khi tôi quyết định đẩy cái xe ra khỏi đó và cưỡi lên nó. Đã thế còn phi thẳng tới Salzburg! ông tán thưởng. Xét mọi khía cạnh, đó là một thành tựu phi phàm. Việc duy nhất cháu sai, ông nói với tôi, là cứ ỉm im không hé răng về việc cháu định làm. Nhưng, ông lập tức thêm vào, Tất nhiên, một kế hoạch như thế, muốn thành công nhất thiết phải bí mật. Ông không tài nào hiểu được làm sao người ta có thể cho rằng tôi đã thất bại. Cứ tưởng tượng mà xem, ông nói. Thằng bé vừa nhảy lên xe đã đạp một mạch tới tận gần Salzburg. Riêng ta, ta thấy đó là kỳ tích. Mẹ vẫn lặng thinh bất động: bà chẳng còn lựa chọn nào. Ông bắt đầu liệt kê hàng loạt những cuộc đào tẩu thời thơ ấu của mình. Khi phải trái lời và gây rắc rối cho bố mẹ, đứa trẻ đồng thời định hình chính mình. Chính những đứa khó bảo mới định hình được mình. Và cũng chính chúng yêu cha mẹ nhất, hơn tất cả bọn khác. Nhưng cha mẹ không hiểu điều đó. Con không hiểu, ông nói với mẹ. Thịt bò luộc là món yêu thích của ông. Và cả món xúp bò luộc nữa. Chuyện đó tôi không sao hiểu được, vì tôi ghét thịt bò; nó khiến tôi phát buồn nôn. Giờ tôi biết ta chỉ có thể thích thịt bò khi đã trưởng thành, lúc còn nhỏ thì không thể. Ông tôi nhấm nháp đồ ăn, nhai nuốt chậm rãi, biến sự ăn uống thành một nghi lễ của chủ nghĩa khoái lạc. Lũ trẻ con tỉnh lẻ, sau này chúng thành ra cái gì? ông hỏi. Nếu không phải hạng con buôn phì nộn vênh váo chẳng biết gì đến nơi đến chốn thì cũng là thứ người biển lận chỉ biết tối tối ních cho đầy bụng mỡ. Thứ thơ duy nhất lũ thộn này biết chỉ là cái câu vợ chúng thêu lên khăn ăn: Con đường đến trái tim người đàn ông là thông qua dạ dày. Đó là sự thật. Ta phải luôn nhớ rằng thế giới có nhiều điều hơn là sự tầm thường. Nhưng chúng ta bị sự bần tiện vây hãm và do đó không thể tránh phải ngày ngày bị sự ngu làm ngạt thở. Ta đã làm gì để phải chui rúc trong cái lỗ nhớp nhúa này? Vậy mà ta đã có thể được coi là may mắn, ông nói. Ettendorf dẫu sao cũng không đến nỗi như Traunstein. Ta vẫn không phải sống ở một thị trấn tỉnh lẻ. Ta sống ở đồng quê. Mặt khác, ông nói, có điều gì ta đã không làm để thoát khỏi sự dơ dáy của đời sống quẩn quanh trong làng mạc? Từ khi mới bảy, tám tuổi, ông đã quyết tâm đào thoát. Chốn nhớp nhúa ấy, phải cao chạy xa bay càng sớm càng tốt, không được để lỡ thời cơ. Ban đầu, khi anh trai ông bỏ đi làm công việc kinh khủng là quản lý rừng, người ta đã định rằng ông phải trở thành một lão bán buôn bơ, chủ tiệm rượu và đầu cơ như cha mình. Khi nhận ra không thể giao phó việc gì cho ông được, họ tống ông tới chủng viện ở Salzburg. Ta mà lại đi làm linh mục giáo xứ! ông thường kêu lên như vậy. Dẫu sao, đó cũng là một bước quyết định dẫn tới cuộc đào thoát khỏi những giới hạn chật hẹp đã được định cho ta, ông nói. Dỗ dành quyến mị người đời để làm giàu cho riêng mình không phải là việc có thể hấp dẫn ông. Ở Salzburg, ông nói, ông đã bắt đầu mê Schopenhauer và Nietzsche. Trước đây ta còn không biết những thứ như thế tồn tại, ông nói. Cha ta còn chẳng đánh vần nổi, ông thường tự hào nói. Trong khi đó ta nung nấu những dự đồ tiểu thuyết, những bộ tiểu thuyết đồ sộ. Không, phải để cho thằng bé thỏa mãn lòng hiếu kỳ của nó, chỉ như thế nó mới phát triển khỏe khoắn được; phải thả cương cho sự tò mò của nó mặc sức tung hoành. Lúc nào cũng cố kìm nó lại mới là ngu xuẩn và tội lỗi. Thằng bé phải theo đuổi các ý của chính nó, không phải của lũ thầy giáo chỉ có rặt những ý vô giá trị. Cứ nghĩ mà xem: nó có thể đi xa hơn tất cả chúng ta - phí tổn lại chẳng bao nhiêu, chỉ một chiếc vé tàu! Ông đứng dậy khỏi bàn với câu nói ấy - cái ý rõ ràng đang khiến ông vô cùng hào hứng...Tôi đã luôn là một đứa trẻ mang đến rắc rối. Năm 1931, mẹ tôi, theo lời khuyên của một người bạn sinh ra ở Henndorf nhưng làm việc ở Hà Lan, dạt đến Heerlen để sinh tôi khi cái thai rõ ràng không thể giữ trong bụng lâu hơn được nữa. Việc sinh tôi ra trong một ngôi làng nhỏ như Henndorf là bất khả: ở thời chưa ai chấp nhận những đứa trẻ ngoài giá thú, điều đó sẽ dẫn đến một xì căng đan hoàn toàn vùi dập mẹ tôi. Bà Rosina hẳn sẽ tống cổ cô cháu gái Herta, tên mẹ tôi, ra khỏi nhà và như thế, toàn bộ phần đời còn lại, mẹ sẽ phải gánh nỗi nhục không thể xóa nhòa là có một đứa con ngoài giá thú, đã thế còn là con của một kẻ vô lại, như cha tôi thường được gọi. Suốt những năm sau này, mẹ tôi mỗi khi trở về làng luôn chỉ mặc đồ đen và chỉ dám đến sân nhà thờ rồi đi. Hồi 1930, hẳn mẹ sống cùng bà cô Rosina trong khi cha mẹ của mẹ sống ở Wernhardtstrasse, Vienna. Mẹ yêu Henndorf hơn bất kỳ nơi nào khác và đã được chôn cất ở đó, theo đúng di nguyện, vào năm 1950. Cha tôi là con một nông dân trong vùng và, theo lệ thường, đã học lấy một nghề, nghề thợ mộc bên cạnh nghề nông vốn có. Hẳn chính trong thời gian này, cha đã tiếp xúc - sự tiếp xúc ở mức thân mật nhất có thể - với mẹ. Về chuyện đó tôi không biết gì hơn. Người ta nói hai người thường hẹn hò ở nhà nghỉ mát mùa hè trong vườn táo của bà Rosina. Đây quả thực là tất cả những gì tôi biết về phần lịch sử trước khi tôi ra đời. Lánh khỏi chốn ô nhục, mẹ tôi dạt đến Hà Lan, nơi người bạn sắp xếp cho mẹ trú tạm tại Rotterdam. Chẳng bao lâu, mẹ sinh tôi trong một tu viện Heerleen chuyên chăm sóc cho những cô gái sa ngã. Khi mới ra đời, như có thể thấy trên ảnh, tôi có nhiều tóc hơn tôi từng thấy ở bất kỳ đứa hài nhi nào khác. Người ta nói tôi là một đứa bé vui vẻ, và mẹ tôi, như mọi bà mẹ, cũng rất vui. Henndorf đã tránh được một xì căng đan và bà Rosina có thể ngủ ngon không tư lự. Cha của mẹ tôi, ông ngoại, không hề biết về sự tồn tại của tôi. Cả năm trời mẹ không dám nói cho ông bà ở Vienna về việc tôi ra đời. Tôi không biết mẹ sợ điều gì. Người cha, một tiểu thuyết gia đồng thời là triết gia, không nên bị xao nhãng khỏi công việc. Tôi tin đó chính là lý do mẹ giữ bí mật lâu đến thế. Cha tôi chẳng bao giờ nhận tôi. Ở tu viện gần Heerleen, họ chỉ có thể giữ tôi một thời gian ngắn. Mẹ phải đến nhận lại tôi; quay về Rotterdam, mẹ gói tôi trong một bọc quần áo mượn của người bạn. Vì không thể vừa khư khư đèo bồng tôi vừa làm việc, mẹ phải tìm cách gửi tôi đi. Giải pháp là một con tàu đánh cá đậu ở cảng Rotterdam. Vợ người chủ tàu nhận nuôi một lũ trẻ dưới boong. Bảy, tám đứa hài nhi được đặt vào những cái võng mắc lủng lẳng trên trần gỗ. Mỗi lần bà mẹ đến (chừng một hai lần một tuần), cái võng lại được hạ xuống cho chị ta xem mặt con. Người ta bảo lần nào tôi cũng khóc đến cháy ruột cháy gan và rằng, trên tàu, mặt tôi lên đầy nhọt vì những cái võng được treo ở một nơi vừa hôi thối vừa ám một lớp khói đặc quánh. Nhưng mẹ tôi chẳng còn lựa chọn nào. Mẹ đến thăm tôi mỗi lần một tuần, vào Chủ nhật, vì cả tuần mẹ phải làm giúp việc để kiếm tiền nuôi bản thân và trả phí giữ tôi. Bù lại, bằng cách này, mẹ bắt đầu biết thêm về thế giới bên ngoài, ở chính cảng lớn nhất châu Âu. Tôi không biết nhiều về giai đoạn đó. Nhưng tôi có thể chắc chắn rằng năm đầu tiên của cuộc đời, trừ những ngày đầu, tôi đã sống trọn trên biển - không phải bên bờ biển mà trên biển - một việc thường xuyên khiến tôi phải suy nghĩ và tác động lớn đến tôi. Cả đời, việc đó vẫn giữ vai trò trọng yếu đối với tôi. Tôi là đứa con của biển khơi từ trong xương tủy; chỉ khi ra đến biển, tôi mới có thể hít thở bình thường và suy nghĩ mạch lạc. Tuy không giữ được ấn tượng gì về thời kỳ này, tôi vẫn tin rằng quãng thời gian lênh đênh trên biển đã xác định con đường cuộc đời tôi. Đôi lúc, khi hít mùi biển vào căng lồng ngực, tôi có cảm tưởng đó là ký ức sớm nhất mình bắt được. Tôi thường ngẫm nghĩ, chẳng phải không tự hào, rằng mình là đứa con của biển, không phải của núi. Tôi không thực sự thấy thoải mái trên núi. Đến hôm nay, tôi vẫn sợ sẽ bị núi nghiền nát và bóp ngạt. Miền đất lý tưởng của tôi là foreland của dãy Alps, nơi tôi sống hầu hết tuổi thơ, cả ở Bavaria, gần Chiemsee và ở miền Salzburg, nhưng giai đoạn ấy remote vô cùng, trải dài từ năm ba tuổi tới năm bảy tuổi. Trước đó, sau năm đầu ở Hà Lan, tôi sống ở Vienna trong hai năm. Có lẽ khi đã nhận ra rằng không còn cách nào khác, mẹ tôi quyết định viết thư cho ông bà (tức cha mẹ của mình) từ Rotterdam và thú nhận sự tồn tại của tôi. Ông bà giang rộng tay đón đón mẹ về Vienna. Một lần nữa gói tôi vào bọc quần áo, mẹ đưa tôi đi cùng đến Vienna; chuyến đi kéo dài một ngày một đêm. Từ đây tôi có không chỉ mẹ mà cả ông bà nữa. Chính ở Wernhardtstrasse, quận mười sáu, gần Wilhelminenspital, tôi đã cất tiếng gọi ông đầu tiên. Tôi vẫn còn nhiều ảnh của thời kỳ này. Một ô cửa sổ trông ra một cây keo đồ sộ, một đoạn đường rất dốc có tôi trên chiếc xe ba bánh đang phi xuống, những chuyến trượt tuyết cùng ông ở Ameisbrücke. Ông kéo tôi qua trước hàng rào sắt của nhà thương điên Steinhof, trong một chiếc xe hai bánh lộng lẫy cả tựa lưng, hai bên tay vịn và một handle dài bằng gỗ. Một tấm ảnh ghi lại cảnh này hãy còn đây. Tôi được kể rằng năm hai tuổi, tôi rơi khỏi bàn máy khâu Singer của bà - cậu tôi đã đặt tôi lên đó. Kết quả là tôi phải qua vài ngày ở Wilhelminenspital vì cơn chấn động não. Chuyện này tôi không nhớ. Chỉ còn lại với tôi vài hình ảnh rời rạc của thời kỳ sống ở Vienna, trong sự chiều chuộng của ông tôi, bà tôi, mẹ tôi cùng cậu Farald, người luôn mang những sắc màu mới vào cuộc sống của chúng tôi. Ông tôi, nhà văn, dành nhiều thì giờ viết lách. Bà tôi, làm nghề đỡ đẻ - công việc bà đã được đào tạo. Mẹ tôi làm giúp việc và đôi khi cả đầu bếp. Hẳn không dễ dàng gì: bảy tuổi mẹ đã được diễn trong vở Bạch Tuyết ở nhà hát opera hoàng gia và được hoàng đế thưởng mề đay. Mười hai tuổi, mẹ bị phát hiện mắc chứng viêm áp xe phổi và phải từ bỏ hoàn toàn ý định trở thành một prima ballerina - sự nghiệp ông đã hướng cho mẹ. Ông đã muốn con gái mình tỏa sáng trong ngôi đền các nữ thần nghệ thuật [muse] của hoàng đế và mẹ, theo tôi biết, hội đủ điều kiện để thực hiện điều đó, vậy mà cuối cùng lại phải quét dọn những phòng ngủ cùng tiền phòng của đám giàu xổi Döbling và phải kiếm việc trong đủ loại nhà bếp quanh vùng Währinger Straße. Farald được định sẽ trở thành nhà triết học, nhưng, một đêm, cậu gia nhập đảng cộng sản, trở thành bạn và đồng chí của Ernst Fischer trứ danh, để rồi cuối cùng dạt từ hết nhà tù này đến nhà tù khác ở Vienna và các tỉnh. Từ khi tôi còn nhỏ đến độ chưa biết đi, cảnh sát đã liên tục đập cửa căn hộ của chúng tôi ở Wernhardtstrasse hòng giải cậu đi. Nhưng từ khi bắt đầu hoạt động ngầm, cậu đã chẳng bao giờ còn ở nhà nữa. Chuyên môn của cậu là ra đường khi đêm đã xuống, cùng những đồng chí được lựa chọn giăng những banners lớn trên các phố chính của thủ đô, những banners tụng ca chủ nghĩa cộng sản là tương lai duy nhất của nhân loại. Lúc ấy, chừng hai mươi tuổi, cậu làm quen với một thợ cắt tóc phụ tá tên Emil Fabjan, vừa được tuyên trắng án cho một tội nào đó, đang làm cho một tiệm cắt tóc nam và nữ gần Maroltingergasse. Cậu đánh bạn với anh chàng nhà quê/ suburban ngây thơ này - kẻ vẫn thấy thế giới là một bí mật chưa thể xâm nhập - dụ hắn vào đảng. Một hôm, cậu dẫn người đồng chí mới đến Wernhardtstrasse. Ông tôi lấy làm thích thú với cậu thanh niên hoàn toàn chưa bị vẩn đục này, kẻ dành sự ngưỡng mộ tối cao cho các nhà văn và luôn kinh ngạc rằng những nhân vật như thế có thể tồn tại được. Và như thế, mẹ tôi gặp người chồng tương lai, giám hộ của tôi. Đó là giai đoạn khó khăn vật chất lên tới đỉnh điểm, tỉ lệ thất nghiệp cao chưa từng thấy, người tự tử nhan nhản. Tôi được kể lại rằng ngày nào ông tôi cũng dọa tự tử: khẩu súng ngắn đã nạp đạn luôn kè kè dưới gối. Ta thật ngu ngốc khi từ bỏ quyền thừa kế, sau này ông nói. Gã thanh niên đeo đuổi một lý tưởng rỗng tuếch và tung hê tất thảy. Một lần, từ Vienna, ông viết thư cho bà em gái Rosia, nói muốn đến nhà bà ở vài tuần - ngôi nhà đáng ra đã là của ông - hòng trốn tình cảnh thảm hại ở Vienna dẫu chỉ một thời gian. Bà viết thư đáp rằng nhà bà không còn chỗ. Nỗi thất vọng này ông tôi thường xuyên nhắc lại, Nhưng kinh nghiệm của ông - kinh nghiệm của một người lý tưởng sớm quyết tâm dâng hiến đời mình cho một đảng để rồi nhận ra mình đã bị lừa trắng trợn - không gây ấn tượng với Farald. Thời thanh niên, ông tôi đã mê đắm chủ nghĩa xã hội và bằng cách đó hủy hoại đời mình, giờ con trai ông lại chìm vào men say cộng sản. Tất cả các thành viên trong gia đình, chỉ trừ nhân vật liên quan, đều thấy trước được những gì sẽ đến. Cậu tôi càng lúc càng khăng khít với những người cộng sản, gieo rắc sự khủng bố và khiếp đảm trong chính nhà mình. Lôi kéo Emil Fabjan chưa đủ, cậu còn dìm cả gia đình Fabjan trú ở Hasnerstrasse vào một giai đoạn kinh hoàng. Đó là chưa kể nhiều gia đình phải chịu nguy hiểm - thậm chí nguy hiểm tính mạng - vì người cậu cuồng loạn của tôi (người hiển nhiên có bộ óc phi thường nhất nhà, bên cạnh ông ngoại). Tất cả những gì cậu làm đều phi pháp. Đi cùng cậu bao giờ cũng cực kỳ thú vị nhưng cũng cực kỳ nguy hiểm. Lý tưởng của cậu cuối cùng tan tành, khi đã quá muộn, các mảnh không còn có thể ghép cố lại nữa. Về giai đoạn Vienna ấy - những năm cay đắng của cả gia đình - tôi chỉ còn giữ được vài hình ảnh, trong đó tôi có vẻ ăn ngon mặc ấm và dường như hết sức hài lòng/ chẳng có gì phải phàn nàn. Trên những cái ghế trẻ em cao ngất, những cỗ xe ngựa kiểu cũ hay đủ loại xe trượt tuyết, đứa bé là tôi ngự trị như một ông hoàng con, lúc nào cũng ăn diện không chê vào đâu được. Và trong bức ảnh nào cũng vậy - vì tất cả đều là ảnh chụp - ở đứa bé ấy toát ra một vẻ thanh lịch mà đến tận hôm nay tôi vẫn còn lấy làm hãnh diện. Một công tử gia đình quyền thế hẳn cũng chỉ trông đến thế mà thôi, tôi thường nghĩ. Xét cho cùng, tuổi thơ của tôi có lẽ đã không đến nỗi tệ. Phong cảnh quanh Wilhelminenberg tắm trong ánh chiều mát dịu, còn tôi là trung tâm sự chú ý và ngưỡng mộ của tất cả mọi người. Đối với gia đình tôi, khi ấy đã sống ở Wernhardtstrasse được hai chục năm, mọi thứ có lẽ đã chạm đáy. Nhiều bức ảnh tôi còn giữ ghi lại cảnh váy áo thõng trên mình họ như trên những bộ xương. Đối với họ, Vienna hẳn chẳng khác gì địa ngục, nơi mỗi ngày sống là một ngày đánh cược. Ông tôi muốn thoát khỏi địa ngục này càng sớm càng tốt, dẫu phải trả giá bằng việc quay lại đúng nơi ba mươi năm trước ông đã trốn đi. Ba mươi năm ấy, ông đã lao động miệt mài, dẫu cuối cùng chỉ công cốc: phải, ông xuất bản được một cuốn tiểu thuyết dẫu phải tự bỏ tiền; tên nó là Ulla Winblatt. Nhưng cuốn sách, theo lời ông kể, đã bị nhai nát bởi một con dê đại tướng mà bà tôi nuôi ở Forstenried, gần Munich.

(còn nữa)

Thêm vào giỏ hàng thành công