favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova

I

Ánh sáng đến rồi đi rồi lại đến, tràng chuông điểm ba giờ vang chất đồng dồn dập từ tòa án ngân buông khắp thị trấn, ngọn gió tháng Tư dịu nhẹ thổi tạt đài phun nước thành những lát cầu vồng, cho đến khi vệt nước hình lông vũ tụ lại và khua nhịp, chính lúc Grover bước vào Quảng trường. Cậu là một đứa trẻ, mắt tối và nghiêm nghị, có vết bớt trên cổ – một quả mọng sắc nâu ấm – với gương mặt hiền từ, quá đỗi tĩnh lặng và quá đỗi chăm chú so với tuổi mình. Đôi giày trẻ con sờn rách, đôi tất gân dày buộc nịt ngang đầu gối, chiếc quần cộc cắt thẳng với ba chiếc khuy nhỏ vô dụng bên hông, chiếc áo thủy thủ, chiếc mũ cũ kỹ méo mó đội lệch trên mái tóc đen tuyền như lông quạ, chiếc túi vải bạt hoen ố đeo hờ trên vai, giờ đang trống rỗng nhưng chực chờ những trang báo chiều thơm mùi mực mới – những phục trang thân thuộc, xoàng xĩnh ấy, khi vận vào cơ thể Grover, đã gọi tên chính con người cậu. Cậu rẽ bước và đi dọc mạn bắc Quảng trường, và ngay trong khoảnh khắc ấy, cậu đã nhìn thấy sự giao hòa của Vĩnh cửu và Hiện tại.

Ánh sáng đến rồi đi rồi lại đến, vệt nước lớn của đài phun nước khua nhịp và ngọn gió tháng Tư rải nó khắp Quảng trường thành một mảng bụi nước tựa tơ trời sắc cầu vồng. Những chú ngựa của sở cứu hỏa gõ móng xuống sàn bằng những cú dậm vang tiếng gỗ, đầy thong thả, cùng những cú quất đuôi khô khốc bằng cái đuôi thô sạch sẽ của chúng. Tàu điện từ mọi hướng la bàn nghiến bánh vào Quảng trường rồi dừng lại một chốc như những món đồ chơi lên dây cót theo định kỳ mười lăm phút quen thuộc. Một cỗ xe do con ngựa già gầy trơ xương kéo lọc cọc băng qua lối đi lát đá cuội phía bên kia, trước cửa tiệm của cha cậu. Tiếng chuông tòa án ngân buông lời cảnh báo trang nghiêm đã cận kề ba giờ, và mọi thứ vẫn tuyệt đối nguyên vẹn như nó vẫn luôn như thế.

Cậu nhìn khối hỗn độn các hình thù gai góc ấy bằng đôi mắt tĩnh lặng – cái mớ kiến trúc tạp nham pha tạp tạo nên Quảng trường, và cậu không hề cảm thấy lạc lối. Vì “Ở đây,” Grover nghĩ, “Quảng trường vẫn thế như thường ngày – và cửa tiệm của cha, sở cứu hỏa và Tòa thị chính, đài phun nước đang khua nhịp vệt nước, những chiếc tàu điện chạy đến rồi dừng lại mỗi mười lăm phút, cửa hàng kim khí ở góc kia, dãy nhà gạch cũ kỹ bên mạn đường này, những người qua lại và ánh sáng đến rồi thay đổi rồi sẽ luôn quay trở lại, và mọi thứ đến rồi đi và thay đổi trên Quảng trường, nhưng rồi sẽ lại vẹn nguyên như cũ. Và ở đây,” cậu bé nghĩ, “là Grover cùng chiếc túi bạt đựng báo. Đây là Grover già dặn, đã gần mười hai tuổi. Đây là tháng Tư năm 1904. Đây là tiếng chuông tòa án và giờ thứ ba. Đây là Grover trên Quảng trường không bao giờ thay đổi. Đây là Grover, bị trói chặt vào thời điểm này.”

Trong mắt cậu, bản thân Quảng trường – kết quả ngẫu nhiên của nhiều năm gầy dựng, sự tụ hội tình cờ của thời gian và những nỗ lực đứt gãy – chính là trung tâm vũ trụ. Trong bức tranh tâm tưởng cậu, nơi đây là trục quay của Trái Đất, là lõi đá granite của sự bất biến, là chốn vĩnh hằng nơi mọi thứ đến rồi đi, nhưng vẫn lưu trú mãi mãi và sẽ không bao giờ đổi thay.

Cậu đi qua căn lều cũ nát nơi góc đường – cái bẫy lửa bằng gỗ nơi S. Goldberg mở quầy bán xúc xích. Rồi cậu đi qua cửa hiệu Singer ngay sát vách, với tủ kính trưng bày những chiếc máy may mới bóng loáng. Cậu nhìn và ngưỡng mộ chúng, nhưng không cảm thấy vui sướng gì. Chúng gợi lại trong cậu tiếng rì rầm bận rộn của công việc nội trợ và của những người phụ nữ đang khâu vá, sự phức tạp của mũi kim đường chỉ, sự bí ẩn của kiểu dáng và hoa văn, ký ức về những người phụ nữ cúi mình trên những mũi kim loang loáng, tiếng bàn đạp nhịp nhàng, tiếng trục xoay hối hả. Đó là công việc của đàn bà: nó lấp đầy cậu bằng những liên tưởng vô định về sự tẻ nhạt và nỗi buồn chán mơ hồ. Và luôn luôn, kèm theo đó là một thoáng rùng mình kinh hãi, bởi đôi mắt tối của cậu sẽ luôn hướng về phía mũi kim đang đâm lên thụt xuống quá nhanh mà mắt thường không sao dõi theo được. Và rồi cậu sẽ nhớ lại có lần mẹ từng kể cậu nghe bà đã để mũi kim đâm xuyên qua ngón tay, và mỗi khi đi qua nơi này, cậu đều sẽ nhớ lại chuyện đó, và trong một khoảnh khắc, cậu sẽ rướn cổ rồi quay đầu nhìn đi chỗ khác.

Cậu lại bước tiếp, nhưng rồi phải dừng chân một lần nữa ngay sát vách trước cửa hàng nhạc cụ. Cậu luôn phải dừng lại trước những nơi bày biện các món hàng hoàn mỹ và bóng loáng. Cậu yêu những cửa hàng kim khí và những ô kính đầy rẫy các công cụ hình học chuẩn xác. Cậu yêu những ô kính ngập tràn búa, cưa và những tấm bào gỗ. Cậu thích những ô kính đầy những chiếc cào, chiếc cuốc mới cứng, chắc chắn với phần cán chưa hề hao mòn, làm từ thứ gỗ trắng muốt hoàn hảo, được đóng dấu mộc của nhà sản xuất một cách cứng cáp và rõ nét. Cậu yêu việc được ngắm nhìn những thứ như thế trong tủ kính của các cửa hàng kim khí. Và cậu thực sự sẽ nhìn chúng một cách thèm thuồng rồi ngẫm ngợi rồi sẽ có ngày mình cũng sở hữu một bộ như thế.

Cậu cũng luôn dừng lại trước cửa hàng đàn piano và nhạc cụ. Đấy là một cửa hiệu lộng lẫy. Và đằng sau ô kính là một chú chó nhỏ màu trắng đang ngồi trên hai chân sau, đầu nghiêng đi một cách nghiêm nghị, một chú chó nhỏ lông trắng không bao giờ cử động, không bao giờ sủa, chỉ chăm chú ghé sát ống loe của chiếc máy phát nhạc để lắng nghe “Tiếng nói của Ông chủ” – một ống loe mãi mãi im lìm và một giọng nói không bao giờ cất lên. Và bên trong là biết bao dáng hình sang trọng và bóng bẩy của những chiếc đại dương cầm, một bầu không khí của xa hoa và giàu có.

Vào lúc này, thật vậy, cậu bị trói chặt, để cho lơ lửng. Một luồng không khí ấm áp, ngập tràn hương sô-cô-la, lấp đầy hai lỗ mũi cậu. Cậu cố bước qua mặt tiền màu trắng của cửa tiệm nhỏ chỉ rộng chừng tám foot; cậu khựng lại, đấu tranh với lương tâm; cậu không thể đi tiếp. Đó là một hiệu kẹo nhỏ do lão Crocker và mụ vợ trông coi. Và Grover không thể bước qua.

“Nhà Crocker già bủn xỉn!” cậu nghĩ một cách khinh bỉ. “Mình sẽ không đến đó nữa đâu. Nhưng mà…” khi mùi thơm gây điên đảo của thứ sô-cô-la đặc quánh đang nấu lại chạm vào cậu lần nữa – “mình chỉ nhìn ghé nhìn qua ô kính xem họ có những gì thôi.” Cậu ngập ngừng một lát, nhìn bằng đôi mắt tối và tĩnh lặng vào bên trong tủ kính hiệu kẹo. Ô kính sạch sẽ không một vết bẩn, chất đầy những khay kẹo mới ra lò. Mắt cậu dừng lại ở một khay sô-cô-la viên tròn. Một cách vô thức, cậu liếm môi. Đặt một viên trong chỗ ấy lên lưỡi và nó sẽ tan chảy ngay thôi, như mật ngọt. Và rồi những khay đầy ắp kẹo fudge nhà làm đậm đà. Cậu thèm khát nhìn vào khối sô-cô-la fudge dày dặn, đăm chiêu vào phần kẹo vị lá phong óc chó, và khắc khổ hơn, nhưng vẫn thèm thuồng vô tả, vào những viên kẹo bạc hà, kẹo nougat, cùng tất cả những món mỹ vị khác.

“Nhà Crocker già bủn xỉn!” Grover lại lầm bầm lần nữa rồi quay lưng định bước đi. “Mình sẽ không bao giờ bước chân vào đó nữa.”

Thế nhưng cậu vẫn chẳng rời đi. “Nhà Crocker già bủn xỉn” thì cứ bủn xỉn; nhưng nói đi cũng phải nói lại, họ quả thực làm ra thứ kẹo ngon nhất thị trấn, trên thực tế là thứ kẹo ngon nhất mà cậu từng được nếm qua.

Cậu lại nhìn qua ô kính vào bên trong cửa hiệu nhỏ và thấy mụ Crocker ở đó. Một người khách vừa bước vào và mua đồ, và khi Grover quan sát, cậu thấy mụ Crocker, với khuôn mặt nhỏ thon như chim cùng những đường nét co rúm, đang rướn người lên và dòm một cách kiểu cách vào chiếc cân. Mụ cầm một miếng kẹo fudge bằng những ngón tay nhỏ nhắn, gầy guộc nhưng sạch sẽ, và khi Grover nhìn, mụ bẻ nó ra, đầy kiểu cách, bằng đôi bàn tay xương xẩu nhỏ thó của mình. Mụ thả một mẩu kẹo xuống đĩa cân. Chiếc cân trĩu xuống một cách đáng báo động và đôi môi mỏng mụ mím chặt lại. Mụ giật phắt mẩu kẹo fudge ra khỏi đĩa cân và cẩn thận bẻ nó ra lần nữa. Lần này chiếc cân dao động, hạ xuống thật chậm, rồi thăng bằng trở lại.

Mụ Crocker cẩn thận đặt mẩu kẹo fudge vừa lấy ra vào lại trong khay, ẩy phần còn lại vào một túi giấy, gấp lại rồi đưa cho khách, đếm tiền cẩn thận rồi bỏ vào hộc tủ, các đồng penny để một ngăn, các đồng kền để một ngăn.

Grover đứng đó, nhìn đầy khinh bỉ. “Mụ Crocker già bủn xỉn – sợ rằng mụ có thể cho không người ta một mẩu vụn chắc!”

Cậu hứ lên một tiếng đầy khinh bỉ và lại quay lưng định đi. Nhưng đúng lúc này, lão Crocker từ trong căn phòng nhỏ bằng vách ngăn nơi họ tự làm ra tất cả các loại kẹo bước ra, bưng một khay kẹo fudge mới ra lò trên đôi bàn tay gầy giơ xương. Lão Crocker lắc lư dọc theo quầy hàng ra phía trước rồi đặt nó xuống. Lão thực sự lắc lư. Lão là một người tàn tật. Và giống như vợ mình, lão là một sinh vật nhỏ thó, nhăn nheo như chim, với đôi bàn tay xương xẩu, đôi môi mỏng và một khuôn mặt co rúm, gầy gò. Một bên chân ngắn hơn bên kia vài inch, và ở chiếc chân này đi cái ủng đế dày khổng lồ, cùng một kiểu cấu tạo bằng gỗ giống như chiếc bập bênh, cao ít nhất sáu inch, để bồi cho phần hụt. Trên thiết bị chòng chành bằng gỗ này, lão Crocker lắc lư bước đi, với một nụ cười nhỏ kiểu cách và đầy e dè, như thể lão sợ mình sắp đánh mất thứ gì đó.

“Lão Crocker già bủn xỉn!” Grover lầm bầm. “Hứ! Lão chẳng cho ai cái gì đâu!”

Thế mà cậu vẫn chẳng rời đi. Cậu lần lữa ở đó đầy tò mò, dòm qua ô kính, với gương mặt tối và hiền từ giờ đây đang tập trung và chăm chú, cảnh giác và hiếu kỳ, gí sát mũi vào tấm kính. Một cách vô thức, cậu dùng cái mũi giày cũ sờn rách gãi gãi vào lớp vải gân dày của chân đang mang tất bên kia. Mùi hương tươi mới, ấm áp của mẻ fudge mới làm thơm ngon tuyệt vời. Nó làm người ta hơi phát điên một tẹo. Trong trạng thái không hoàn toàn tỉnh táo, cậu bắt đầu lục lọi trong một bên túi quần, rồi lôi chiếc ví của mình ra, một chiếc ví đen cũ kỹ, sờn rách, xoàng xĩnh với chiếc khóa cài vặn xoắn. Cậu mở nó ra và lùng sục bên trong.

Những gì cậu tìm thấy chẳng mấy phấn khởi – một đồng kền và hai đồng penny, và – cậu đã quên bẵng chúng – những con tem. Cậu lấy chỗ tem rồi bày ra. Có năm con loại hai xu, tám con loại một xu, tất cả những gì còn lại từ số tem trị giá một đô sáu mươi xu mà Reed, người dược sĩ, đã trả công cậu chạy vặt một hai tuần trước.

“Lão Crocker,” Grover nghĩ, rồi nhìn một cách u sầu vào cái dáng hình dị hợm nhỏ thó khi lão lắc lư đi ngược vào trong cửa tiệm lần nữa, vòng qua quầy hàng và đi lên phía bên kia. “Chà…” cậu lại nhìn một cách vô định vào những con tem trong tay – “lão ta đã lấy tất cả số tem kia rồi. Lão cũng có thể lấy luôn chỗ này.”

Thế là, sau khi đã xoa dịu lương tâm bằng chút thể diện khinh miệt ấy, cậu bước vào trong cửa tiệm, đứng nhìn những khay kẹo trong tủ kính và cuối cùng đưa ra quyết định. Chỉ ngón tay hơi lấm bẩn về phía khay fudge mới làm, cậu nói: “Cháu lấy mười lăm xu loại này, bác Crocker.” Cậu ngập ngừng một lát, đấu tranh với sự ngượng ngùng, rồi ngước gương mặt tối của mình lên và nói khẽ: “Và làm ơn, cháu lại phải trả bác bằng tem ạ.”

Lão Crocker không đáp lời. Lão không thèm nhìn Grover. Lão mím chặt đôi môi một cách kiểu cách. Lão lắc lư bước đi lấy chiếc xẻng xúc kẹo, quay trở lại, trượt mở cánh cửa tủ kính, xúc kẹo fudge cho vào xẻng, rồi lắc lư tiến về phía chiếc cân, bắt đầu cân kẹo. Grover dõi theo trong lúc lão dòm và nheo mắt nhìn, cậu dõi theo trong lúc lão bĩu môi rồi mím chặt chúng lại, cậu thấy lão lấy một mẩu kẹo fudge rồi bẻ nó làm đôi. Và rồi lão Crocker già lại bẻ đôi của hai nửa đó một lần nữa. Lão cân, lão nheo mắt, rồi lão tần ngần, cho đến khi Grover cảm thấy rằng việc mình từng gọi mụ Crocker là bủn xỉn hóa ra lại là một sự bất công tột cùng. Nhưng cuối cùng, trước sự nhẹ nhõm vô hạn của cậu, công việc cũng xong xuôi, chiếc cân treo ở đó, run rẩy đầy e dè trên chính lằn ranh mỏng như sợi tóc của sự cân bằng căng thẳng, như thể ngay cả chiếc cân cũng sợ rằng chỉ cần lão già Crocker dịch chuyển thêm một cái nữa thôi là nó sẽ tiêu tùng.

Lão Crocker khi ấy đón lấy chỗ kẹo rồi trút vào túi giấy, và khi lắc lư ngược theo quầy hàng về phía cậu bé, lão cộc lốc hỏi: “Tem đâu?” Grover đưa cho lão. Lão Crocker lơi những ngón tay đang bấu chặt lấy túi kẹo và đặt nó xuống quầy. Grover cầm lấy và bỏ vào bao vải bạt của mình, rồi chợt nhớ ra. “Bác Crocker…” cậu lại cảm nhận sự ngượng ngùng quen thuộc gần như nhói lên – “cháu đưa thừa cho bác đấy ạ,” Grover nói. “Có mười tám xu tiền tem cơ ạ. Bác… bác cần thối lại cho cháu ba con tem một xu.”

Lão Crocker không đáp lời. Lão bận rộn với đôi bàn tay nhỏ xương xẩu của mình, mở những con tem ra và miết cho phẳng phiu trên mặt quầy kính. Khi làm xong, lão đưa ánh mắt sắc lẹm nhìn chúng trong một khoảnh khắc, rướn cái cổ gầy trơ xương về phía trước và đưa mắt dò lên dò xuống, như một tay kế toán đang cộng dồn những dãy số.

Khi xong xuôi, lão nói một cách chua ngoa: “Ta không thích kiểu làm ăn này. Nếu muốn mua kẹo, mày phải có tiền mặt. Ta không phải là bưu điện. Lần tới mày vào đây mà muốn mua cái gì, mày sẽ phải trả ta bằng tiền mặt.”

Cơn giận dữ bốc lên nơi cổ họng Grover. Khuôn mặt màu ô-liu của cậu đỏ bừng lên giận dữ. Đôi mắt đen như hắc ín của cậu sẫm lại và sáng quắc. Cậu đã suýt thốt lên: “Vậy tại sao lúc trước bác lại nhận những con tem của cháu? Tại sao đến tận bây giờ, khi đã lấy hết sạch số tem cháu có, bác mới bảo cháu là bác không muốn nhận?”

Nhưng cậu là một cậu bé, một cậu bé mười một tuổi, một cậu bé tĩnh lặng, hiền từ và chín chắn nghiêm nghị, và cậu đã được dạy dỗ phải kính trọng người lớn. Vì vậy, cậu chỉ đứng đó và nhìn bằng đôi mắt đen như hắc ín của mình. Lão già Crocker, khẽ bĩu môi một chút mà không hề chạm vào ánh mắt của Grover, cầm những con tem lên bằng những ngón tay mỏng manh, khô khốc của mình, rồi quay người, lắc lư mang chúng đi về phía hộc tiền. Lão cầm những con tem hai xu, gấp lại và đặt chúng vào một ngăn tròn, rồi cầm những con tem một xu, gấp lại và bỏ vào ngăn kề. Sau đó, lão đóng hộc tiền lại và bắt đầu lắc lư bước đi, xuống tận bên kia căn nhà. Grover, gương mặt giờ đây đã tĩnh lặng và nghiêm nghị, vẫn tiếp tục dõi theo lão, nhưng lão Crocker không hề nhìn Grover. Thay vào đó, lão bắt đầu cầm những miếng bìa các-tông đã dập sẵn khuôn và gấp chúng thành hộp.

Trong một khoảnh khắc, Grover lên tiếng: “Bác Crocker, làm ơn thối lại cho cháu ba con tem một xu được không ạ?”

Lão Crocker không đáp lời. Lão vẫn tiếp tục gấp hộp, và đôi môi mỏng của lão mím nhanh lại theo mỗi động tác. Nhưng mụ Crocker, lúc này đang quay lưng về phía chồng và cũng đang gấp hộp bằng đôi tay như chân chim, lầm bầm đầy chua ngoa: “Hừ. Là tôi thì tôi chẳng bán buôn gì với nó sất!”

Lão Crocker ngước lên nhìn Grover, nói: “Mày còn đứng đấy đợi cái gì?”

“Làm ơn thối lại cho cháu ba con tem một xu ạ,” Grover nói.

“Ta chẳng thối cho mày cái gì hết,” lão Crocker nói.

Lão bỏ dở công việc, lắc lư tiến về phía trước dọc theo quầy hàng. “Giờ thì xéo khỏi đây ngay! Đừng có mà vác thêm mấy cái thứ tem đó vào đây nữa,” lão Crocker nói.

“Tôi thì tôi muốn biết nó lấy đâu ra chỗ tem đó – đấy mới là điều tôi muốn biết,” mụ Crocker nói.

Mụ không ngước lên khi thốt ra những lời này. Mụ hơi nghiêng đầu sang một bên về phía lão Crocker, và tiếp tục gấp những chiếc hộp bằng những ngón tay xương xẩu của mình.

“Mày xéo khỏi đây ngay!” lão Crocker nói. “Và mai mốt đừng có đem tem phiếu gì lại đây nữa sất.... Mày đào đâu ra chỗ tem đó?” lão hỏi.

“Đấy chính là điều tôi đang nghĩ,” mụ Crocker nói. “Tôi đã nghĩ như vậy suốt từ nãy đến giờ.”

“Hai tuần nay mày cứ liên tục vào đây với mấy con tem đó,” lão Crocker nói. “Tao thấy không ổn rồi đấy. Mày lấy đâu ra chỗ tem đó?” lão nói.

“Đấy chính là điều tôi đang nghĩ,” mụ Crocker lặp lại lần thứ hai.

Sắc mặt Grover chuyển sang trắng bệch dưới làn da ô-liu. Đôi mắt cậu đã mất đi vẻ lấp lánh. Chúng trông như những hòn bi hắc ín đờ đẫn, bàng hoàng. “Từ bác Reed ạ,” cậu nói. “Cháu nhận được số tem đó từ bác Reed.” Rồi cậu thốt lên đầy tuyệt vọng: “Bác Crocker – bác Reed sẽ nói cho bác biết cháu có số tem đó thế nào mà. Cháu đã làm vài việc cho bác Reed, bác ấy đã đưa cho cháu chỗ tem đó hai tuần trước.”

“Bác Reed cơ đấy,” mụ Crocker nói đầy cay nghiệt. Mụ không hề quay đầu lại. “Tôi thì tôi thấy chuyện này nực cười hết sức.”

“Bác Crocker,” Grover nói, “bác chỉ cần trả lại cho cháu ba con tem một xu…”

“Mày xéo khỏi đây ngay!” lão Crocker quát lên, và lão bắt đầu lắc lư tiến về phía Grover. “Từ giờ đừng có bước chân vào đây nữa nghe chưa, thằng nhãi! Chuyện này tao thấy có gì đó khuất tất lắm! Tao thấy không ổn chút nào,” lão Crocker nói. “Nếu mày không thể trả tiền như những người khác, thì tao chẳng cần phải mua bán gì với mày.”

“Bác Crocker,” Grover lại nói, và dưới làn da ô-liu, gương mặt cậu đã xám ngắt, “bác chỉ cần trả lại cháu ba con…”

“Mày xéo khỏi đây ngay!” lão Crocker quát lớn, lắc lư tiến xuống phía đầu quầy hàng. “Nếu mày không xéo đi, thằng nhãi…”

“Tôi là tôi sẽ gọi cảnh sát, đấy là điều tôi sẽ làm,” mụ Crocker nói.

Lão Crocker vòng qua đầu dưới của quầy hàng. Lão lắc lư tiến sát đến chỗ Grover. “Mày cút đi,” lão nói.

Lão túm lấy cậu bé và đẩy cậu bằng đôi bàn tay nhỏ xương xẩu của mình, và Grover cảm thấy buồn nôn tận nơi đáy lòng quặn thắt.

“Bác phải trả lại cho cháu ba con tem một xu đó,” cậu nói.

“Mày xéo khỏi đây ngay!” lão Crocker rít lên. Lão chộp lấy cánh cửa lưới, kéo bật ra, rồi đẩy Grover ra ngoài. “Đừng có mà quay lại đây nữa,” lão nói, ngập ngừng một lát, đôi môi mỏng mím chặt lại giần giật. Lão quay người và lắc lư đi ngược vào trong cửa tiệm. Cánh cửa lưới sập mạnh lại phía sau lão.

Grover đứng trơ trọi trên vỉa hè. Và ánh sáng đến rồi đi rồi lại đến trên Quảng trường.

Cậu bé đứng trơ trọi ở đó, và một chiếc xe ngựa lóc cóc lướt qua. Có vài người đi ngang, nhưng Grover không hề nhận thấy họ. Cậu đứng đó như một kẻ mù lòa dưới những phiên gác mặt trời, cảm nhận rằng đây chính là Thời gian, đây chính là trung tâm của vũ trụ, là lõi đá granite của sự bất biến, và cảm nhận rằng, đây là Grover, đây là Quảng trường, đây là Hiện tại.

Nhưng một điều gì đó đã tan biến khỏi ngày xanh. Cậu cảm thấy một nỗi tội lỗi ngập tràn, cay đắng đến thấu lòng mà thảy thảy mọi đứa trẻ, thảy thảy những con người lương thiện trên cõi đời này đều từng nếm trải kể từ thuở Thời gian khai sinh. Và ngay cả cơn giận dữ cũng đã nguôi ngoai, đã bị nhấn chìm trong làn sóng tội lỗi đang dâng cuộn này, và “Đây là Quảng trường” – Grover nghĩ như trước đây – “Đây là Hiện tại. Kia là cửa tiệm của cha mình. Và tất thảy mọi thứ vẫn vẹn nguyên như nó đã luôn từng như thế, ngoại trừ mình.”

Và Quảng trường đảo điên quay cuồng quanh cậu, ánh sáng hóa thành những hạt bụi xám mù lòa nhảy múa trước mắt, đài phun nước rải ra mảng cầu vồng óng ánh rồi lại trở về với vệt nước kiêu hãnh khua khoắng. Nhưng tất cả nét rạng ngời đã tan biến khỏi ngày xanh, và “Đây là Quảng trường, và đây là sự vĩnh hằng, và đây là Thời gian – và tất thảy vẫn vẹn nguyên như nó đã luôn từng như thế, ngoại trừ mình.”

Đôi ủng sờn rách của đứa con trai đã mất di chuyển và vấp váp quáng quàng. Đôi bàn chân tê dại bước qua vỉa hè – đến lối đi lát đá cuội, đến khuôn viên quảng trường trung tâm – những thảm cỏ và những luống hoa, chẳng bao lâu nữa sẽ đơm đầy phong lữ đỏ.

“Mình muốn ở một mình,” Grover nghĩ, “để không phải đến gần cha... Ôi Chúa ơi, mình hy vọng cha không bao giờ nghe thấy chuyện này, không ai nói với cha cả…"

Vệt nước thổi tạt đi, mảng bụi nước cầu vồng óng ánh sượt qua người cậu.

Cậu băng ngang qua, tìm thấy mạn bên kia rồi rảo bước qua đường, và – “Ôi Chúa ơi, nếu cha mà nghe thấy!” Grover nghĩ, khi đôi bàn chân tê dại của cậu bắt đầu bước lên những bậc thềm dẫn vào cửa tiệm cha mình.

Cậu tìm thấy và cảm nhận các bậc thềm – bề rộng và độ dày của những tấm gỗ cũ dài hai mươi foot. Cậu nhìn thấy tất cả – những cây cột sắt trên hiên nhà, được sơn thứ màu xanh-đen mờ xỉn dị kỳ mà mọi hàng cột như thế ở vùng đất và thời tiết này đều đổi sang; hai bức tượng thiên thần lốm đốm vết ruồi và những khối đá đang chực chờ. Trong xưởng đá, phía sau và xung quanh, là những hình thù lạnh lẽo màu trắng bằng cẩm thạch, từng khối đá đẽo tròn cùng bức tượng thiên thần uể oải với đôi bàn tay cẩm thạch ngập tràn tình yêu thương lay động.

Cậu đi tiếp xuống lối đi ở giữa, những hình thù trắng muốt đứng vây quanh cậu. Cậu đi thẳng về phía cuối phòng làm việc. Nơi này cậu đã thân thuộc – cái bếp lò bằng gang nhỏ nhắn góc bên trái, bám đầy cặn, úa nâu, phồng vì nhiệt và có phần khuỷu ống khói dài chạy ngang qua xưởng; ô cửa sổ cao và nhem nhuốc nhìn xuống qua Quảng trường Market về khu Niggertown; những chiếc kệ cũ thô mộc, ghép bằng ván gỗ tấm dày dặn, thớ gỗ không mịn mà xơ xốp như lớp lông cứng của một loài thú; trên kệ để đục các cỡ và phủ dày một lớp bụi đá; một bánh mài có bàn đạp bơm; và một cánh cửa thông ra con hẻm, nhưng con hẻm nằm dưới đó mười hai foot. Ngay trong căn phòng này, hai giá đỡ bằng thứ gỗ cắm đinh thô ráp đang đỡ lấy những tấm bia mộ, và tại một giá, cha cậu đang làm việc. Cậu bé nhìn vào, thấy cái tên được khắc là Creasman: thấy cái tên John được đục đẽo một cách chi li và có tính toán, sự cân đối của chữ s, và dòng mộ chí đa cảm đang được đánh bóng trau chuốt phía dưới tên cùng ngày tháng: “John Creasman, ngày 7 tháng 11 năm 1903.”

Ông Gant ngước lên. Ông năm nay năm mươi ba tuổi, gương mặt hốc hác, ria mép cắt tỉa, vóc dáng cao lớn, dong dỏng và gầy gò vô cùng. Ông vận bộ đồ tối màu trang nhã – dày dặn, bề thế – ngoại trừ việc ông không mặc áo khoác. Ông làm việc với hai tay áo sơ mi xắn cao và vẫn mặc áo gi lê, một sợi dây đồng hồ chắc chắn căng ngang bụng gi lê, cổ áo cánh én và cà vạt đen, yết hầu nhô cao, vầng trán xương xẩu, chiếc mũi gồ, đôi mắt nhạt màu xanh-xám, nông và lạnh, và hiểu theo cách nào đó, toát lên vẻ cô độc, một chiếc tạp dề sọc quàng lên quanh vai ông, và cổ tay áo bằng hồ cứng. Trong một bàn tay là cái vồ gỗ tròn khổng lồ như khúc gỗ của gã đồ tể; và trong bàn tay kia, một chiếc đục bén lạnh lùng, chắc chắn.

“Con sao rồi, con trai?”

Ông không ngước lên khi nói. Ông lên tiếng trầm lắng, lơ đãng. Ông điều khiển cái đục và cái vồ gỗ như một người thợ kim hoàn đang sửa đồng hồ, ngoại trừ việc ở người đàn ông và chiếc vồ gỗ ấy còn có cả sức mạnh vũ bão.

“Có chuyện gì thế, con trai?” ông nói.

Ông di chuyển quanh đầu bàn, bắt đầu đục lại chữ J một lần nữa.

“Cha ơi, con không hề ăn cắp tem,” Grover nói.

Ông Gant đặt chiếc vồ xuống, đặt chiếc đục xuống. Ông bước vòng qua giá đỡ.

“Cái gì?” ông nói.

Khi Grover chớp chớp đôi mắt đen như hắc ín, chúng sáng lên, những giọt lệ nóng hổi trào ra. “Con không hề ăn cắp tem,” cậu nói.

“Hử? Chuyện gì thế này?” cha cậu hỏi. “Tem nào cơ?”

“Chỗ tem bác Reed cho con, hồi cái cậu kia bị ốm và con làm việc ở đấy ba ngày ấy ạ…. Và lão già Crocker,” Grover nói, “lão ta đã lấy hết số tem đó. Và con đã bảo lão là bác Reed cho con rồi. Giờ lão còn nợ con ba con tem một xu… và lão già Crocker bảo lão không tin chỗ tem đó là của con. Lão bảo… lão bảo… chắc là con lấy cắp chúng ở đâu đó,” Grover bật ra.

“Chỗ tem Reed cho con… hử?” người thợ đá nói. “Số tem con có…” Ông thấm nước bọt lên ngón tay cái, ngửa đầu ra sau và chậm rãi đảo mắt một lượt quanh trần nhà, rồi quay người và sải bước thật nhanh từ phòng làm việc ra ngoài kho lưu trữ.

Gần như ngay lập tức ông quay trở lại, và khi đi ngang qua vách ngăn bằng ván gỗ sơn xám cũ kỹ của văn phòng mình, ông đặng hắng một tiếng, thấm ướt ngón tay cái và nói: “Giờ, ta bảo con này…”

Rồi ông lại quay người, sải bước ngược về phía trước, đặng hắng và nói: “Ta bảo con bây giờ đây…” Ông xoay người bắt đầu quay lại, và khi bước dọc theo lối đi giữa những dãy bia mộ được dàn hàng chỉnh tề, ông thì thầm qua kẽ răng: “Thề có Chúa, giờ thì…”

Ông nắm lấy tay Grover và hai cha con bước đi như bay. Họ đi dọc lối giữa băng qua tất thảy các bia mộ, lướt qua những vị thiên thần lốm đốm vết ruồi đang chực chờ ở đó, rồi xuống các bậc thềm gỗ và băng qua Quảng trường. Đài phun nước khua khoắng, vệt nước thổi tạt ra sắc cầu vồng óng ánh và quét qua người họ; một con ngựa già màu xám, với vẻ thư nhàn hiện trên bờ môi rách, đang liếm sột soạt làn nước núi mát lành từ máng nước khi Grover cùng cha đi qua Quảng trường, nhưng họ chẳng hề mảy may để tâm.

Họ chóng vội cắt sang phía bên kia theo một đường thẳng hướng về cửa hàng kẹo. Ông Gant vẫn đang mặc chiếc tạp dề sọc dài, và ông vẫn đang nắm chặt tay Grover. Ông mở cánh cửa lưới và bước vào bên trong.

“Trả tem cho nó,” ông Gant nói.

Lão Crocker lắc lư tiến về phía trước phía sau quầy hàng, với vẻ kiểu cách và sự cẩn trọng lúc này trông hơi giống một nụ cười. “Chẳng qua là…” lão nói.

“Trả tem cho nó,” ông Gant nói, rồi ném vài đồng xu xuống mặt quầy.

Lão Crocker lắc lư đi lấy những con tem. Lão lắc lư quay trở lại. “Tôi chỉ là không biết…” lão nói.

Người thợ đá cầm lấy những con tem và đưa cho cậu bé. Và lão Crocker thu vào chỗ xu.

“Chẳng qua là chuyện đó…” lão Crocker lại bắt đầu, và mỉm cười.

Ông Gant đặng hắng một tiếng: “Ông chưa bao giờ làm cha,” ông nói. “Ông chưa từng biết đến nỗi lòng của một người cha hay thấu hiểu tâm can của một đứa trẻ; và đấy là lý do ông lại hành xử như vậy. Nhưng ông đang gánh chịu một lời phán xét rồi. Chúa đã nguyền rủa ông. Người đã làm ông khốn khổ. Người đã khiến ông trở nên què cụt và tuyệt tự như hiện tại – và cứ què cụt, tuyệt tự, rồi khốn nạn như thế này, ông sẽ bước xuống nấm mồ của mình và bị lãng quên vĩnh viễn!”

Vào mụ vợ của Crocker cứ liên tục nhào nặn đôi bàn tay nhỏ xương xẩu của mình rồi nói lời van nài: “Ôi không… ôi xin ông đừng nói thế, làm ơn đừng nói thế.”

Người thợ đá, hơi thở trong lồng ngực vẫn còn khè khè, rời khỏi cửa hàng, vẫn nắm chặt lấy tay cậu bé. Ánh sáng lại ùa về với ngày xanh.

“Chà, con trai,” ông nói, rồi đặt tay lên lưng cậu bé. “Chà con trai,” ông nói, “giờ thì con đừng bận tâm nữa.”

Họ rảo bước qua Quảng trường, mảng bụi nước rải ra thứ ánh sáng cầu vồng óng ánh quét qua người họ, con ngựa tơm tớp hớp nước bên máng, và “Chà, con trai,” người thợ đá cất lời.

Và con ngựa già cúi mình bước xuống, móng guốc của nó gõ vang lên những lối đi lát đá cuội.

“Chà, con trai,” người thợ đá nói một lần nữa, “Hãy là một đứa trẻ ngoan.”

Và rồi ông bước lên những bậc thềm tiệm mình bằng những sải chân lớn và quay ngược trở vào trong.

Cậu bé đứng sững trên Quảng trường, ngay sát bên hiên cửa tiệm của cha.

“Đây là Thời gian,” Grover nghĩ. “Đây là Quảng trường, đây là cửa tiệm của cha, và đây là tôi.”

Và ánh sáng đến rồi đi rồi lại đến – nhưng giờ đây không còn hoàn toàn nguyên vẹn như nó đã từng như thế trước kia. Cậu bé nhìn thấy cấu trúc của những dáng hình thân thuộc và biết rằng chúng vẫn hoàn toàn y nguyên như chúng vẫn luôn như thế. Nhưng một điều gì đó đã tan biến khỏi ngày xanh và một điều gì đó lại ùa về. Khuất tầm nhìn đôi mắt tĩnh lặng ấy, chút nét rạng ngời đã ra đi, và trong tầm nhìn của chúng, một sắc màu sâu thẳm hơn tìm đến. Cậu không thể gọi tên, cậu không biết qua cuộc đời đã đi qua những dáng hình biến chuyển nào chỉ trong vòng mười lăm phút ấy. Cậu chỉ biết rằng một điều gì đó đã mất đi – một điều gì đó mãi mãi chạm tới được.

Chính lúc ấy, một cỗ buggy đánh vòng qua Quảng trường, ở phía đuôi xe có dán một tấm áp phích, đề “St. Louis” và “Chuyến viễn du” và “Hội chợ”.

Thêm vào giỏ hàng thành công