Địa ngục không tầng
Viết nhân vừa đọc lại tập tiểu luận của Nhã Thuyên, ở thời của nhóm Mở Miệng - giai đoạn mà tập tiểu luận ấy nhìn vào, và cũng là giai đoạn ngay sau thời mạt kỳ bao cấp của Nguyễn Huy Thiệp, cái thời đại mà tôi - một đứa gen Z (vì quá gần) đã ngỡ không tồn tại chuyển động văn chương mà chỉ là vũng nước tù đọng, đấy là thời chính trị hoá nghệ thuật như Walter Benjamin hẳn nói. Vừa đủ 20 năm cho một thế hệ, thời ấy qua rồi hay còn tiếp diễn, liệu tiền tố “hậu” có thể được đặt ra như để vội vàng khép lại một cửa tủ, như khi người ta lật đật đúc khái niệm “hậu hiện đại” để cáo chung thế kỷ 20 của chiến tranh và ý luận - tức là không phải một từ mới để bắt kịp thực tại vừa mới thay đổi mà một từ mới như một lời thề giữa những kẻ còn sống với người đã khuất, để kịp thở phào nhẹ nhõm trong lúc tự nhủ mình không còn chung đụng gì với thời hiện đại, như đóng lại cánh cửa vừa kịp lúc thoát khỏi tên sát nhân đang rượt đuổi. Triển theo ý ấy, tôi viết text này với lòng đầy thành kính và run sợ khi đặt hai tay khép lại một thời, dẫu thực tại có thế nào thì tôi cũng nhất định phải sang trang bằng một ý thức khác. Và cũng triển theo ý ấy, lời thề tôi đặt ra là lời thề phải nghệ thuật hoá chính trị, chính trị (ở thời Nhã Thuyên) tạo ra và phân loại các văn bản, nhưng cần phải thấy sự bất lực của biểu đạt và sự khó nhằn của thông diễn và sự mờ mịt của diễn giải. Ở thế hệ đầu, bằng sự tinh tế (takt) - người ta sống đúng chính sách mà không cần phải đọc, tức là sống theo văn nói chứ không phải văn viết, rồi sau đó, các thế hệ sau phải kế thừa những văn bản rối rắm của tiền nhân, và trò chơi diễn giải bắt đầu, các văn bản đồng thời cũng tạo ra chính trị, con người không sử dụng ngôn ngữ cho bằng chính ngôn ngữ sử dụng con người, hãy đọc cùng tôi.
Người với người là sói, vào buổi bình minh của nhân loại, theo cái nhìn của Sade, kẻ mạnh là vua. Vương miện là ký hiệu giúp nhận biết nhà vua, quyền trượng chỉ là đồ trang trí làm đẹp thêm kẻ mạnh. Khi ấy, khi bình minh của nhân loại cũng là bình minh của các vị thần, Cronos giết Uranus và Zeus giết Cronos, lứa trẻ giết lứa già, bi kịch Oedipus - con giết cha tái diễn như thiên lý. Vua là phần thưởng cho kẻ mạnh sau cuộc tranh vị, người ta cố hết sức để làm vua, rồi làm vua như tận hưởng kỳ nghỉ dài, vua thuần tuý gắn liền với quyền lợi.
Các văn bản chính trị đầu tiên là sách self-help dành cho vua chúa: sách của Machiavelli ở phương Tây, và Khổng Tử ở phương Đông. Với các sách dạy cai trị, con người bắt đầu hình dung vua như một nghĩa vụ, làm vua là làm nghề, cai trị là công việc có tính chuyên môn và cần đào tạo. Vua không chỉ là quyền lợi nữa, mà còn thêm nghĩa vụ. Một trong những đặc điểm của hình thức self-help là nó biến đổi ký hiệu thành biểu tượng, vương miện thành biểu tượng, còn quyền trượng thành công cụ lao động, không phải kẻ mạnh làm vua nữa, mà bất kỳ ai là vua thì người đó cũng là kẻ mạnh. Không phải giành được quyền, mà là vì có nghĩa vụ nên có quyền. Dòng tư tưởng này, với tôi, được suy tư đến kiệt cùng ở Simone Weil, triết học của những thiên thần với đôi cánh đỏ, với khái niệm bổn phận.
Nhưng để vua thành kẻ mạnh, các thầy pháp của bộ lạc còn cần phải thêm một bước cầu viện đến thiên mệnh của các vị thần - kẻ mạnh tuyệt đối với nhân loại, các văn bản tôn giáo và văn bản chính trị quyện bện với nhau ở cả Tây và Đông. Để biết hoàng đế phương tây khác phương Đông như thế nào, nên đọc tiểu luận “Thơ Á Đông và Chính trị sinh thái” của Nguyễn Vũ Hiệp, với tác giả: vua Á Đông là từ cái cá nhân suy ra cái tập thể, còn bình thường thì vua là từ tập thể suy ra cá nhân.
Ở các tôn giáo nguyên thuỷ, không tính dòng Abraham, cái thiện được hình dung có tính không gian, và như Mircea Eliade nói, nằm ở trung tâm thế giới. Các bộ lạc phát triển ngày càng mở rộng về mặt không gian, xoay quanh thánh địa trung tâm. Tương quan cái ác và cái thiện, cũng là tương quan cái biết với cái bí ẩn, cũng là tương quan về mặt địa lý, càng đi xa thì các loài động thực vật càng xa lạ. Thánh địa trung tâm này sẽ được dời lên mặt trời như là trung tâm vũ trụ, khi loài người chuyển sang sống chủ yếu bằng nông nghiệp, và phụ thuộc vào mùa màng và thời tiết. Kể cả ở Platon, thế giới Ý Niệm cũng mang tính không gian nhiều hơn thời gian, dù được cái chân-thiện hồi tưởng, thì thế giới Ý Niệm vẫn tồn tại đồng thời với thực tại, chứ không như một thiên đường đã mất mà chỉ có thể quay về vào Ngày Phán Xét như thế giới quan dòng Abraham. Với Plotinus, ánh sáng của Chúa toả ra tư bề, cái chân-thiện-mỹ phát tán theo chiều không gian, cái ác chính là sự khiếm diệm của cái thiện như Augustine nói, cái ác là nơi ánh sáng không chiếu tới, thiện ở giữa và ác bao quanh. Trong-ngoài trung tâm thế giới là cấu trúc của tôn giáo-chính trị, cái ngoài rìa là cái ác - là bọn barbaric.
Khi vua không còn được hình dung như một cá nhân hùng mạnh tính khí thất thường, mà như một thực thể vận hành theo nguyên lý đất trời, tức là vua chỉ là một chức năng cần có của xã hội, và cần hoạt động ổn định bất biến như tự nhiên, Thomas Hobbes đã có một ý thiên tài về điều này. Ý tưởng khế ước xã hội ra đời, rằng ban đầu con người có tất cả mọi quyền tự nhiên, và để chung sống với nhau hoà hợp bình lặng như nước chảy mây trôi mà không có xung đột bất ngờ, họ ký khế ước để từ bỏ một số quyền của mình để nhường lại cho nhà vua, lần đầu tiên nhà vua có chức năng tư pháp. Với Hobbes, bầy người là bầy sói, nên chức năng phân chia thịt thú săn là tối quan trọng, tư pháp là đầu trong ba ngôi của quyền, đến John Locke, đàn người là đàn hươu, chức năng đội hình lúc sống chung là thứ cần ưu tiên, lập pháp là đầu.
Với ý tưởng khế ước xã hội, công lý chính là tự do, và tội chính do luật sinh ra, chứ không phải tội tạo ra luật, vì thuở ban đầu con người có mọi quyền nên làm gì cũng đúng. Ký khế ước là lần ăn trái cấm thứ hai của con người, sự kiện sinh ra dòng giống Cộng Hoà, những công dân (từ sau Đại Cách mạng Pháp) sẽ sinh sôi cho đầy mặt đất, và đến thế kỷ 21 thì hầu như không ai không là người Cộng Hoà. Muốn biết một người Cộng Hoà trước khi ăn trái cấm Tư Bản (tức là trước khi đoạ thành bourgeois) thì rất nên đọc Stendhal.
Dẫu sao, quyền cũng là cái tự có chứ không phái sinh từ nghĩa vụ, bản chất thần thánh của nhà vua không còn nữa, không còn sứ mệnh siêu nhiên mà Thượng Đế ban duy nhất cho một người, nhà vua cũng là người bình thường được nhận nhiều quyền hơn nhờ những lá phiếu bầu cử. Không lâu sau, Kant đặt lý trí của con người vào trung tâm siêu hình học. Và, thời gian không còn bị quy định bởi chuyển động của mặt trăng và mặt trời nữa, mà chính chuyển động bị neo vào thời gian, lịch sử lên đường, thời gian (từ vòng tròn lặp lại) đã bị đứt thành đường thẳng kéo dài vô tận. Khi ấy, không còn cái ác như phản đề của đức tin hướng thiện nữa, mà cái ác là cái đối lập của sự thông minh (biết suy nghĩ đúng đắn về những điều phổ quát), cái ác là sự ngu dốt. Trong Le Spleen de Paris, Baudelaire đã kể một chuyện rất hay về đồng tiền giả, về khoảnh khắc bẽ bàng khi nhận thấy cái ác không tự thân, mà chỉ đơn thuần là lớp mặt nạ của sự ngu dốt. Khi đó, cái thiện bị neo vào thời gian thay vì không gian, cái thiện không phải là địa điểm không thể đến, mà cái thiện là kiến thức cần nghĩ ra, tôn giao tồn tại theo chiều thẳng đứng của đức tin, còn khoa học phát triển theo chiều ngang của lý trí, lý trí đi từng bước diễn dịch hay quy nạp, còn tôn giáo nhảy thẳng đến nơi cần. Tương quan thiện-ác không còn là trong-ngoài nữa, mà là trước-sau. Cái thiện là những điều hợp lý - có thể dự đoán, cái ác là những điều phi lý - không thể dự đoán. Thời này, nhân loại bắt đầu dự án biện nhân luận của mình: nếu con người tự nhiên là toàn thiện, vậy tại sao lại có cái ác trên đời. Dưới cặp kính của Michel Foucault, một loạt chiến lược nghiên cứu con người được phơi bày từ thế kỷ 19, vì các ác con người không phải là cái cần tránh mà là cái cần hiểu, thay cho trừng phạt là giám sát, thay cho che đậy là phơi bày dưới lăng kính khoa học, tất cả cần phải được kiểm soát - kể cả cái tôi.
Nhưng thể loại của hình thức khế ước là gì? Nếu là hiến pháp, nó sẽ mang tính nội tại, và được viết bằng thao tác quy nạp các quyền của người ký, như giao ước của bầy sói. Nếu là tuyên ngôn, nó sẽ mang tính siêu vượt, và được viết bằng thao tác diễn dịch những nguyên tắc lý tưởng, những người ký sẽ như bầy hươu di cư cùng với nhau đến một cái đích ở tận cùng thời gian.
Một trường hợp đặc biệt của hiến pháp là bức màn vô minh của John Rawls, về một tình huống ký khế ước được hình dung là ở khởi đầu thời gian, khi tất cả người ký chỉ là những linh hồn chứa hạt thiện con con. Nhưng thực ra, đây là một khế ước hoạt động theo hướng hậu nghiệm, những thành phần nào thiệt thòi nhất sẽ được ưu tiên nhiều nhất, tạo thành các vòng lặp tự điều chỉnh thay vì một lý tưởng bất biến. Khi ấy, công lý chính là công bằng. Và ở tầng nền của cơ chế bức màn vô minh, là ý tưởng rằng mọi người đều chọn những lựa chọn có lợi cho mình nhất. Đây được xem như một hướng mới để khắc phục vấn đề may mắn của chủ nghĩa vị lợi, mà tôi từng bàn đến ở vitanova khi nói đến người Anh, và sẽ không nhắc lại, chỉ nói ý chính: hạnh phúc là hậu nghiệm, không ai biết trước điều gì khiến mình hạnh phúc, và vấn đế của chủ nghĩa vị lợi là ai cũng chộp lấy vận may của mình mà không quan tâm đến người khác, điều này tạo ra sự thô lậu và hiện tượng nghèo càng nghèo còn giàu càng giàu, do đó, có cơ chế danh dự để con người từ bỏ vận may của mình. Vận may là trái táo đỏ trong khu rừng khoái lạc, nó có thể bị tẩm thuốc độc hoặc bị cấm bởi Chúa Trời, nếu bỏ không ăn thì gây đau nhức như chứng thấp khớp suốt đời, còn nếu ăn thì sẽ bị người đời khinh rẻ và không ai muốn làm bạn vì xui xẻo. Hai nhân vật rành về vận may nhất mà tôi biết là Henry James và Joseph Conrad. Trước khi đi tiếp, hãy trở lại bức màn của Rawls, một trạng thái như thế, trạng thái của những người không muốn dính dáng gì đến sự tích luỹ dù là kinh nghiệm hay trí thức, sẽ tạo thành những con người hoài nghi đóng kín tinh thần mình, muốn ở trạng thái nguyên sơ nền tảng nhất của con người là một điều gì rất lãng mạn Mỹ ở cả Rawls và Emerson và Chomsky, Thoreau còn tụng ca sự hoang dã kia mà, sẽ tạo thành những tạo thành giống người mặt trắng bợt bạt bị trêu chọc bởi Cioran và chê trách bởi Allan Bloom. Theo những điểm Albert Thibaudet viết, có vẻ dân chủ là đức tính của đám đông hơn là đức tính của cá nhân, thà có một đám đông ai cũng khăng khăng bảo vệ ý kiến mình để rồi trung giới bởi một clearing phê bình, hơn là một đám nhợt nhạt thiếu máu không tin điều gì - ừ sao cũng được. Danh dự cũng khiến con người thiếu máu, như ở James.
Một trường hợp đặc biệt của tuyên ngôn là Tuyên ngôn của Karl Marx, về một tình huống ký khế ước được hình dung là ở tận cùng lịch sử, khi tất cả người ký là những người đã hoàn thành và không còn thay đổi. Tuyên ngôn thì hoạt động theo hướng tiên nghiệm, nó là một lý tưởng được thề ước, và những người ký kết thì sẽ phăm phăm tiến lên hiện thực hoá lý tưởng đó. Nếu kẻ sống vì hạnh phúc bị lạc giữa bao khả thể (vì không biết điều gì sẽ khiến mình hạnh phúc), kẻ sống vì lý tưởng luôn biết đường đi như có ngọn hải đăng trước mặt dẫn đường, hoặc như củ cà rốt trước mặt con lừa. Niềm vui và nỗi buồn xoay quang lộ trình của họ, như ngày và đêm, như mưa và gió, chẳng làm chùn bước kẻ thành tâm hành hương. Họ kiếm, chứ không tìm điều mình luôn thấy. Điều này gây ra một vấn đề. Khi đạt được lý tưởng rồi, thì họ từ chối bất kỳ sự thay đổi nào, từ kẻ cách mạng hạng nhất - họ sẽ thành kẻ bảo thủ hạng nhất, mọi thay đổi đều là bội phản, thay vì tiến công tiếp thì họ chuyển sang trạng thái cố thủ, mất hết sức sống của cách mạnh, họ sống như đã chết, ngay khi lý tưởng thành hiện thực. Họ bị kết án phải chọn cái đích phi lai, nếu không thì không sớm thì muộn họ sẽ bị tha hoá. Có một hướng giải quyết, là cần phải đủ sức tưởng tượng mình sẽ không hạnh phúc kể cả khi ở cõi phi lai, như là Cioran. Để biết về những người lý tưởng luận, không gì tốt hơn đọc Romain Gary, những nhân vật chính của ông luôn là những cô cậu bé Adam Eva thuộc vườn địa đàng của một nhân loại chung thống nhất ở tận cùng lịch sử, nhưng họ bị đầy ngược lại vào quá khứ để chịu khổ hình, họ phải bảo vệ voi hay làm thơ về tiếng chim giữa các cuộc chiến thế kỷ 20, họ là những người lý tưởng luận. Hay cũng có thể, hãy đọc Trần Dần, vì nội tâm con người chỉ cố kết với nhau khi hành động - lao về lý tưởng, còn khi đứng trầm ngâm phản tư - ta thấy mình nhiều mâu thuẫn và rời rạc nội tâm, đọc “Cống Tỉnh” hay “Những ngã tư và những cột đèn” của Trần Dần để thấy con người chuyển hoá kỳ diệu từ bệ rạc sang thống nhất, người hùng nắm lấy chính mình và quăng vào cuộc đời, bởi thay đổi bản thân thì tốt hơn là tìm hiểu bản thân như ông thầy Alain nói, có hình mẫu và vươn lên thì ta sẽ yên tâm trong vẹn toàn.
Nhưng đó đã là câu chuyện của thế kỷ 19 rồi, trước khi có lạm phát. Như đã từng kể ở một text về kinh tế (text này về chính trị) cũng ở vitanova, vào nửa đầu thế kỷ 20, bàn tay vô hình của Adam Smith đã ngâm quá lâu trong máu đen người chết trong hai cuộc thế chiến, khiến nó nhăn nheo lại thành bàn tay khỉ khô bị nguyền, ban mọi điều (in nhiều tiền), theo cách khủng khiếp nhất (gây lạm phát). Nó là con quái vật Frankenstein được dệt bởi các bà nội trợ, và không mù mờ như trái cấm, và gật gù: hèn chi có lạm phát, nếu không thì còn gì là thiên lý nữa, hãy bớt một chút thời gian ăn năn sự đoạ cổ điển - trái cấm, và tận hưởng vẻ đẹp hiện đại - như Baudelaire nói, hãy dành thêm thời gian để ăn năn sự đoạ hoàn toàn hiện đại này, sự đoạ vẫn còn đủ gần để làm lồng ngực chúng ta đau đớn mỗi lần đi chợ, sự đoạ bọc lấy chúng ta và mớm ẩm cho chúng ta như bầu không khí, bầu không khí đượm màu lưu huỳnh do vàng bốc hơi, kể từ nay không còn vạch đích để kẻ chạy marathon gục xuống xả hơi, như Tantalus đói khát mãi mãi, toàn bộ giống người xoay cuồng và văng lên đập xuống trong cơn bão trượt giá, lên và lên mãi, thấp và thấp nữa, cho đến khi rã rời. Từ khi có lạm phát, các dân tộc trở thành công ty gia đình, vì hệ thống ngân hàng nhà nước phải luôn sinh lãi, quỹ nhà nước đem tiền đi đầu tư cơ sở hạ tầng hay kinh doanh, để lãi thêm nhiều cho kịp lạm phát. Ezra Pound đã không nhầm khi viết lịch sử Mỹ chung với lịch sử ngân hàng. Khi các nước chiến tranh với nhau bằng kinh tế, rất cần Homer mới để viết sử thi cho loại chiến tranh lạnh và giết người bằng thất nghiệp này. Chẳng còn gì để ký ngoài những hoá đơn sinh hoạt phí. Thay vì hạnh phúc, ta chạy theo cơ hội. Thay vì lý tưởng, ta đầu quân cho hư vô chủ nghĩa. Để suốt đời, ta chỉ tìm kiếm thành công, mà như đã viết ở một text về Undine của Edith Wharton, khác với lý tưởng hay hạnh phúc - những điều vốn cố định, thành công luôn là sự chiếm tốp đầu cuộc đua, do đó, hình ảnh của thành công thay đổi liên tục như mốt. Cũng như việc người thì nhiều mà tư thế thì ít, hàng hoá thì nhiều mà tính từ thì ít, mẫu mã “tốt” liên tục thay thế nhau khiến người sống nhằm thành công chạy theo mệt bở hơi tai, người bị dí bởi đám đông trung lưu hãnh tiến ầm ầm rượt sau lưng. Trong cuộc đua với con rùa mốt, Achilles nhàn rỗi không thể thắng. Thành công do đám đông (có tính khổ dâm) định đoạt, thành công là một phẩm chất mang tính cộng đồng, người chỉ thành công khi đã so sánh với người khác, người sống nhằm thành công luôn trong tình trạng phải cạnh tranh với kẻ khác, công lý là đa số.
Khi các thiên thần bổn phận của Simone Weil đã khuất dạng, ta xuống căn hầm quan liêu của Kafka. Ở cõi ấy, có quy định rằng: những quyền quan trọng nhất sẽ có quy trình giải quyết rườm rà nhất, quy định hành chính là cái phễu lọc quyền tự nhiên, chứ không phải hiến pháp, hiến pháp chết đi trong quy định hành chính, các viên chức là ông vua đích thực của chính quyền. Trong nhà nước kỹ trị, không phải kiến trúc thượng tầng hay cơ sở hạ tầng, mà chính những yếu tố thuộc trung gian - bộ phận vận hành mới quyết định hướng đi của hệ thống. Ở quy định hành chính, khả thể diễn giải văn bản bị triệt tiêu, và cần theo đúng các bước và theo đúng từng chữ của văn bản, tinh thần pháp luật chết ngắt bởi sự lạnh lùng của văn bản hành chính. Tội không sinh ra từ luật, mà từ sự làm sai một bước của quy định hành chính, quy định hành chính sinh ra tội, quên mật khẩu tài khoản là một tội khó dung, cần phải biết phối hợp với chính quyền trong một xã hội kiểm soát. Khi ấy, đối với người dân, nhà nước hiện hình như một vách đá không khoan nhượng, một thực thể không còn sự sống, một cái ở giữa không tên và không thể gọi, một tồn tại không nguyên nhân và không mục đích, tức là một tồn tại phi lý. Ở đó không thể đặt câu hỏi công lý là, mà chỉ có thể hỏi công lý không là. José Saramago từng viết chuyện ở nhà nước quan liêu: công lý không phải là lá phiếu trắng.
Giờ đây, vì những điều trên, lỗi hành chính đã thay thế hoàn toàn cho tội pháp luật, nhưng không vì thế mà tội biến mất, tội vẫn có đó vào những lúc con người một mình thành thực với bản thân mình, như thường thấy ở tiểu thuyết Dostoyevsky, cái cõi đầy rẫy những con người chợt thấy tội hiện hình dù không cam kết hình phạt nào, không liên quan với điều luật nào. Nhưng vì cứ tưởng tội đã biến mất, nên không còn cơ chế nào của xã hội cho phép tội nhân chuộc tội nữa, các hình phạt phần nhiều là cho việc răn đe những người lương thiện, lấy cái đau của người trước để ngừa người sau, như một mô hình đa cấp, như đáo hạn nợ nần. Claude Lévi-Strauss từng kể, ở các xã hội nguyên thuỷ: khi một người phạm tội, bộ lạc phá tài sản của anh ta, rồi anh ta phải chỉ huy bộ lạc khắc phục những hậu quả mà anh đã gây, sau đó đến lượt bộ lạc sửa sang tài sản của anh, rồi hai bên cứ giúp qua lại như thế đến khi trở lại bình thường, tội đã được chuộc. Ở thời hiện đại, không có cơ chế như thế, vì tội được xem như không còn, thế nên khắp nơi vất vưởng những linh hồn cầu xin được tha thứ, dù ánh mắt người đời đã không còn biết nhỏ nước mắt nhân từ, những linh hồn mãi mãi bị đày đoạ khổ sai ở xứ tuyết.
Như đã nói, tương quan thiện-ác đã trở thành tương quan trước-sau, triết học lịch sử của Hegel đã đặt thiên đường ở tận cùng lịch sử, và địa ngục lùi dần về quá khứ. Con người vẫn phạm điều ác vì pháp luật bỏ sót những trường hợp nhỏ nhặt khiến người còn lợi dụng, pháp luật nhà nước vẫn chưa đủ hợp lý, do đó, thiên đường con người vẫn phải chờ kết quả bàn luận của hội đồng giáo sư triết học và nhà lập pháp, một cái lý vẫn chưa được tìm ra (hoặc chưa thông qua) để giải khúc mắt - họ nói. Dẫu sao, đã không còn lý cớ gì khiến con người phải sống tốt đẹp hơn những điều tập quán quy định, sống đúng luật định là đủ, không cần lòng dũng cảm và hào hiệp - những hoạt tác tích cực, phản ứng thụ động với quy định hành chính là đủ. Thiên đường và địa ngục ở trên đầu và dưới đất, chứ không phải trước mặt và sau lưng, triết học của Kierkegaard như muốn nói với tôi điều này, rằng chỉ bằng một cú nhảy của hiệp sĩ đức tin, thiên đường sẽ ngự tại nhân gian, một bà già mộ đạo ngờ nghệch đáng quý hơn nhà thần học hoài nghi trăn trở đêm ngày. Đừng chờ ở sự đồng quan điểm của đám đông, cũng đừng đi tìm, hãy giữ nguyên tư thế và biết rằng mình đủ, khi ấy nội tại sẽ thành thiên đường, bài học đức tin của những xứ tuyết vùng rìa Châu Âu dành cho tôi: thiện-ác là trên-dưới, không phải trước-sau. Chuộc tội là quá trình tách khỏi thời gian của nhân quần, để đi đường vòng trở lại điểm xuất phát, là cuộc độc hành với Thượng Đế - người không nghe biện minh, đây là bài học nguy hiểm khiến tôi hoài nghi, dẫu sao, nội tại là công lý.
Nhưng nếu tôi chỉ có tội khi tin mình có tội, thứ khiến giáo dục về chính trị trở thành giáo dục về gu - về cảm năng, sau tôn giáo và khoa học, đạo đức đã thuộc về phía của nghệ thuật. Thiện là đẹp, và ác là xấu, chính sự bừng lên phi lý trí của gu tôi sẽ quyết định mọi điều thiện ác. Nghe tin Thượng Đế chết, tôi phải sống, mà không cần biết nó theo đúng các bước của quy định hành chính hay không, mà không cần biết nó có đúng luật hay không, mà không cần biết nó có đem lại cho tôi hạnh phúc, hay thành công, tôi không có lý tưởng. Đến cả việc có nên cướp kẹo của đứa nhỏ, tôi cũng phải suy nghĩ từ đầu và một mình, tôi phải hồi quy vĩnh cửu. Tức là, chưa từng có hai tội ác giống nhau, địa ngục không có tầng - một phát kiến mới trong sự đọc của tôi, mọi phán xét phải được đánh giá từ đầu theo giá trị. Nhưng vấn đề của nghệ thuật là khi nào thì nghệ thuật, chứ không phải nghệ thuật là gì. Thiên đường và địa ngục là hai trạng thái của cùng một miền nội tại: thiện là khi sống chứa thời độ - là tác phẩm nghệ thuật đang còn biểu đạt, ác là khi chết ngừng lại - là cái kistch và thiết chế chờ đổ. Thiện là một cái sống được gấp lại thành một đà, không ngừng hoạt tác như một thể động của tôi, hay nói như Oscar Wilde: nhà duy mỹ là người luôn thấy phiên bản đẹp hơn của mọi vật - chứ không phải người tìm vật đẹp, cái thiện khiến tôi không ngừng trở thành. Một điểm cần lưu ý: cái sống, như triết học Bergson, là sự tiến hoá sáng tạo thêm nhiều hình thức. Chứ không phải sự thu hẹp dần các hình thức như ở lý tưởng luận của Hegel, chẳng hạn. Có một đà sống gấp ở hạch tâm không ngừng bung toả, chứ không phải cái đích lý tưởng ở kết cục không ngừng hội tụ.
Tài mệnh tương đổ của Nguyễn Du có lẽ nên hiểu theo nghĩa này, thiên tài là cái sống, còn định mệnh là cái chết. Bi kịch của Kiều là tài hoa của nàng khơi động cái sống của những người đàn ông đi qua đời nàng, trong khi thứ nàng mong ước không phải tài khuynh quốc khuynh thành, mà chỉ là một gia đình ấm êm như định mệnh phận vị nữ thời phong kiến. Với con người chốn Nho gia, là Kim Trọng, nàng đánh thức y khỏi đời sống tiết dục gia giáo, khiến y tha thiết phong tình thành kẻ trêu hoa ghẹo nguyệt. Với viên tướng chốn xa trường Từ Hải, nàng đánh thức ở y cái lòng an cư lạc nghiệp, cái thèm nhớ mái ấm gia đình. Với Thúc Sinh, nàng khuyên y trở về với chính thất, đừng làm tài tử sánh giai nhân quá lâu nữa. Các nhân vật nam vốn hiện ra đầy ước lệ như trong truyện cổ, đều bị tài hoa của Kiều đẩy về phía đối nghịch, cái sống của nàng khơi động cái sống của người khác thoát khỏi cliché, nàng biến các nhân vật phẳng thành nhân vật tròn, nhưng cái nàng khao khát lại chính là một đời sống bình thường. Xung khắc giữa tài và mệnh, là xung khắc giữa sống và chết, giữa thiện và ác, và là trái tim của nghệ thuật, cũng như đạo đức và chính trị.
P/S: Tội và Bí Ẩn
Bí ẩn là cái bóng của bí mật, có thể nói là vậy. Bí mật là điều ai cũng hiểu được, rằng đó là một nhược điểm - một vết thương hở của người có bí mật, vì thế, để bảo vệ bí mật, kẻ có bí mật phải bọc bí mật của mình bằng sự bí ẩn, cái mà không ai hiểu được, hoặc ít nhất là rất khó để hiểu. Bí mật càng khủng khiếp, bí ẩn càng phải lớn, bí mật chiếm chỗ cuộc sống kẻ có nó, vì hắn phải bỏ thời gian cuộc đời để tạo ra bí ẩn che đậy bí mật, và đó là thời gian bị lãng phí, thời gian bị mất, thời gian chuẩn bị cho cái chết của hắn, đem bí mật xuống mồ - một thành ngữ.
Ở truyện trinh thám cổ điển, bí ẩn là phần chính, bí mật mà hung thủ che giấu là phần phụ, vị thám tử tài ba phô diễn tài năng trí tuệ chống lại bí ẩn vụ án - cách thức hung thủ che giấu tội ác của mình, một Hercules đang thực hiện kỳ công của trí tuệ (không còn của sức mạnh), ngay khi bí ẩn được giải đáp, câu chuyện đã hết phần kịch tính nhất, tiểu đoạn động cơ phạm tội phía hung thủ chỉ đóng vai trò vĩ thanh, như hạt táo được bọc bởi phần thịt quả.
Nhưng ở truyện trinh thám của Simonen, và cả những truyện ngắn khác (thuộc típ noir, như Ông thị trưởng ở Furnes, Mối tình của ông Hire), bí mật mới là phần chính, bí ẩn chỉ là phần phụ, như quả óc chó với lớp vỏ mỏng bên ngoài, hung thủ và quá trình chịu đựng bí mật của hắn mới là phần kịch tính nhất. Độc giả chấp nhận những thủ đoạn bông phèng để che giấu tội ác, miễn là, quá trình bí mật nhiễm độc tâm hồn gây đau đớn hoặc tâm trí căng thẳng đến mỏi mệt của hung thủ (trong quá trình tạo bí ẩn), được miêu tả kỹ lưỡng.
Toàn bộ đời sống hung thủ được sắp xếp xoay quanh bí mật, sống trở thành cái biểu đạt cho bí mật (cái được biểu đạt), và còn phải là một cái biểu đạt đánh lừa, tức là biểu đạt cho mọi thứ ngoại trừ chính bí mật, và nếu chính xác hơn, biểu đạt cái khác với bí mật nhất, như ông Bulstrode (trong Middlemarch) sống ngay thẳng để che giấu tội ác của mình (giấu sự tồn tại của cô con gái, để cướp quyền thừa kế gia tài người mẹ), và đôi khi bí mật quá khủng khiếp, cần đến một đức hạnh khủng khiếp để che giấu, như một nữ tu khổ hạnh (chị của René trong tác phẩm Atula của Chateaubriand, chẳng hạn), và vì quá cao cả, họ cũng phủ bởi bí ẩn nốt. Cần phải làm rõ, đời sống hung thủ không là âm bản của bí mật, bí mật khủng khiếp không tạo nên sự cao cả phi nhân, mà đúng hơn, đời sống bị công cụ hoá, hung thủ sống mà như đã chết, ngay khi bí mật quá khứ của mình bị đe doạ tiết lộ, vị thánh trở thành quỷ dữ, nhưng đó vẫn là hai hành động nhất quán của cùng một con người - nô lệ của bí mật.
Ngược lại, một biến thể của truyện trinh thám, những chuyện gián điệp (và tương tự), một người thấy bí mật của người khác (điểm khác biệt cốt yếu với mô hình thám tử phá án truyền thống, là bí mật được thấy hoặc nghe - tức là bằng giác quan, chứ không phải luận ra bằng lý trí). Và điểm kịch tính của truyện nằm ở chỗ làm sao để hé lộ bí mật chỉ bằng lời tố cáo. Vì vốn dĩ, chỉ khi một người tự thú, bí mật được chủ nhân của nó tự tay đưa ra ánh sáng mới có giá trị, hoặc tìm được lời chứng (lời chứng phủ định lời khai của nghi phạm) và tang chứng để lộ ra lời khai gian của thủ phạm. Tội lỗi tay sai làm dây dẫn nổ quả bom tội ác đầu đảng thực sự, thủ phạm phải đưa ra lý do hợp lý cho lời nói dối của mình, và không đưa ra được.
Nhưng, trong trường hợp đã nói, bí mật tội ác bị một người nhìn thấy, tức là, họ chỉ nhận chứa bí mật tội ác của người khác thôi, họ báo hiệu một tội ác bị giấu, chứ không phải sự chứng minh - khẳng định - phơi bày tồn tại của tội ác, như triệu chứng bệnh không phải là thuốc trị lẫn căn bệnh, nó báo hiệu một căn bệnh đang bị giấu.
Ở đây, tôi sẽ không nói đến những trường hợp của gián điệp, khi chức phận nghề nghiệp đã bảo chứng cho lời tố cáo, mà tôi quan tâm một tình huống kịch tính hơn, trong tiểu thuyết “Chiến tranh và Chiến tranh” của Krasznahorkai László, khi một bí mật được phơi bày, mà kẻ phơi bày không đủ uy tín để bảo chứng cho bí mật, thậm chí, bí mật còn là bí mật không có nạn nhân, vì toàn bộ nhân loại là nạn nhân (nhưng hãy tạm gác chi tiết này sang một bên, vì không cần dao mổ trâu để giết gà, hãy chỉ quan tâm đến việc Dr. Korin György - nhân vật chính hoàn toàn không đủ uy tín cho những phát ngôn hệ trọng). Theo thường lệ, khi không thể hoá giải bí mật của bí ẩn, người ta lấy bí ẩn của mình để đọ với bí ẩn của bí mật, một lá thư tố cáo viết bằng máu người tố (và người tố cáo cũng tự sát luôn) trong những tích xưa cũ (hoặc Thiếu phu Nam Xương, chẳng hạn, dĩ nhiên đây cần hiểu sái vai trò người tố một chút), hoặc mức độ nhỏ hơn là bỏ tiền tố tụng. Một câu đố dân gian: “Không có lửa sao có khói”, một sự hy sinh bản thân đầy bí ẩn - tự biến mình thành nạn nhân - tự tạo thành tội ác, ép kẻ bị tố phải biện minh cho tội ác ký sinh này, và cũng là: tội lỗi tay sai làm dây dẫn nổ quả bom tội ác đầu đảng thực sự, bí ẩn lớn cướp bí mật của bí ẩn bé, sau đó, người tố cáo hoá giải dễ dàng bí ẩn do chính mình tạo ra bằng lời thú - lời tố của mình.
.
Trở lại “Chiến tranh và Chiến tranh”, nhân vật chính liên tục thực hiện những hành động không hiểu nổi: bỏ việc, đến trung tâm thế giới - nước Mỹ, và rất nhiều chuyện điên rồ phi lý khác. Bí ẩn của Dr. Korin György lớn dần như quả cầu tuyết lao dốc (trong mắt các nhân vật khác trong truyện), theo mạch truyện, bí mật của tập bản thảo cổ cũng được hé lộ dần. Và chung cuộc, ở kết thúc truyện, trong mảnh giấy của Dr. Korin György: bí mật và bí ẩn nhập làm một thành mặt trời bạc khổng lồ, toả ánh sáng bạc của đức tin (không phải của lý trí) khuất phục con người trong cõi ấy, tất cả sự phi lý và điều bất khả thuyết cùng tạo thành sự kỳ diệu huyền nhiệm, uy tín sứ mệnh của khổ hình.
“Đạo khả đạo phi thường đạo. Danh khả danh phi thường danh.” - Lão Tử.
Viên Trường
