favorites
Shopping Cart
Search
Vitanova
Bóng ma của một ngôn ngữ thuần túy
Next

-Maurice Merleau-Ponty

Từ rất lâu rồi người ta nói năng trên trái đất và ba phần tư những gì người ta nói không được ai thấy. Một bông hồng, mưa rồi, trời đẹp quá, người thì sẽ chết. Đối với chúng ta đây là các trường hợp thuần túy của biểu đạt. Ta thấy dường như nó đạt đến mức độ toàn vẹn khi chỉ định không chút mờ mịt các sự kiện, vật trạng, tư tưởng hoặc liên hệ, bởi vì, ở đây, nó không để phải trông chờ gì nữa, nó không chứa đựng gì mà không bày ra và làm chúng ta trượt về phía thứ mà nó chỉ tới. Đối thoại, câu chuyện, chơi chữ, tâm sự, lời hứa, lời cầu nguyện, hùng biện, văn chương, nói tóm lại là cái ngôn ngữ lũy thừa hai ấy, nơi người ta chỉ nói đến các vật hay tư tưởng nhằm với tới một ai đó, nơi các từ hồi ứng các từ, thứ ngôn ngữ hối hả trong chính nó, tự xây dựng phía bên trên tự nhiên một vương quốc dày đặc tiếng vo ve và bừng sốt, chúng ta coi nó như là biến thể đơn giản của các hình thức quy ước phát ra một cái gì đó. Biểu đạt, khi ấy, chẳng là gì khác ngoài thay thế một tri nhận hoặc một tư tưởng bằng một dấu hiệu thỏa thuận, nó thông báo, gợi lên hoặc rút gọn cái đó. Tất nhiên, không chỉ có các câu có sẵn và một ngôn ngữ có khả năng chỉ đến những gì chưa bao giờ được nhìn thấy. Nhưng bằng cách nào mà nó làm được như vậy, nếu cái mới không được tạo nên từ các yếu tố cũ, đã được kinh nghiệm, nếu chẳng phải cái đó không thể được định nghĩa một cách đầy đủ nhờ tự vị và các mối quan hệ của cú pháp trong ngôn ngữ đang được sử dụng? Ngôn ngữ có một số lượng nhất định ký hiệu nền móng, liên kết theo đường lối võ đoán với các biểu nghĩa then chốt; nó có khả năng tái hình thành mọi biểu nghĩa mới xuất phát từ các biểu nghĩa kia, tức là nói chúng ra trong cùng ngôn ngữ, và xét cho cùng sự biểu đạt biểu đạt được là bởi vì nó đưa mọi kinh nghiệm của chúng ta quay trở về với hệ thống các tương ứng ban đầu giữa một ký hiệu nào đó và một biểu nghĩa nào đó, mà chúng ta đã nắm được khi học ngôn ngữ ấy, và hệ thống đó là tuyệt đối sáng sủa, vì không ý nghĩ nào lẩn quất trong các từ, không từ nào lẩn quất trong suy nghĩ thuần túy về một cái gì đó. Một cách bí mật, chúng ta thành kính trước lý tưởng ấy về một thứ ngôn ngữ, nó, cho tới sự phân tích chung quyết, hẳn sẽ tự giao nộp cho chúng ta bằng cách giao truyền chúng ta đến các vật. Một ngôn ngữ, đối với chúng ta là cái máy huyền hoặc đó, nó cho phép biểu đạt một số lượng vô tận suy nghĩ hoặc vật với một số lượng có hạn các ký hiệu, bởi vì chúng đã được lựa chọn sao cho có thể tái hình thành một cách chuẩn xác mọi thứ gì mới mẻ mà người ta có thể muốn nói, và có thể truyền đến sự hiển nhiên của những cách gọi tên ban đầu các vật.

 

Công việc ấy có thể được thực hiện, người ta có thể nói và viết, là bởi ngôn ngữ, cũng như niệm năng của Chúa, chứa đựng mầm mống mọi biểu nghĩa khả dĩ, là bởi mọi suy nghĩ của chúng ta đều được dành để được nó nói ra, là bởi mọi biểu nghĩa xuất hiện trong kinh nghiệm con người đều mang, ở trung tâm của nó, công thức của ngôn ngữ, cũng như, đối với những đứa trẻ con của Piaget, mặt trời mang trong trung tâm của nó tên của nó. Ngôn ngữ của chúng ta tìm thấy lại nơi tận sâu các vật một lời nói đã tạo ra chúng.

Những niềm tin ấy không chỉ thuộc về lương tri. Chúng ngự trị ở các bộ môn khoa học chính xác (nhưng không, như chúng ta sẽ thấy, ở ngôn ngữ học). Người ta sẽ không ngừng nhắc đi nhắc lại rằng khoa học là một ngôn ngữ rất hoàn chỉnh. Như thế cũng có nghĩa ngôn ngữ [langue] là khởi đầu của khoa học, thuật toán là hình thức trưởng thành của ngôn ngữ [langage: có thể hiểu rằng “langue” là khái niệm có mức độ trừu tượng cao hơn so với “langage”]. Thế nhưng, nó buộc các ký hiệu được lựa chọn vào với những biểu nghĩa xác định có chủ ý và không gây nhầm lẫn. Nó thiết lập một số lượng nhất định các mối liên hệ có đặc tính trong suốt; nó tạo ra, nhằm trình hiện chúng, các biểu tượng tự thân thì không nói lên gì hết, như vậy sẽ không bao giờ nói gì nhiều hơn so với những gì người ta đã thỏa thuận khiến chúng phải nói. Bằng cách ấy tự tách khỏi các trượt nghĩa có thể gây lẫn lộn, về nguyên tắc, có thể yên tâm là lúc nào cũng có thể chứng minh các phát ngôn của nó nhờ vào các định nghĩa ban đầu. Chừng nào cần phải biểu đạt trong cùng thuật toán các liên hệ mà nó không được tạo ra để phục vụ, hoặc, như người ta hay nói, các vấn đề “thuộc một hình thức khác”, có lẽ sẽ cần đưa vào các định nghĩa mới và các biểu tượng mới. Nhưng nếu thuật toán hoàn thành công việc của nó, nếu nó muốn là một thứ ngôn ngữ nghiêm ngặt và lúc nào cũng kiểm soát được các phép tính của mình, thì không được phép đưa vào đó bất kỳ thứ gì không hiển ngôn, xét cho cùng các liên hệ mới và cũ cần phải cùng nhau tạo ra một gia đình duy nhất, người ta cần phải thấy chúng được phái sinh từ một hệ thống duy nhất các liên hệ khả dĩ, sao cho không bao giờ có quá những gì người ta muốn nói so với những gì người ta nói hoặc những gì người ta nói so với những gì người ta muốn nói, ký hiệu cần phải tiếp tục là sự rút gọn đơn giản của một suy nghĩ lúc nào cũng có thể được giải thích và chứng minh hoàn toàn. Khi ấy phẩm hạnh duy nhất - nhưng có ý nghĩa quyết định - của biểu đạt là thay thế các ám chỉ rối loạn mà mỗi ý nghĩ của chúng ta có với mọi ý nghĩ khác thông qua các hành động biểu nghĩa, với chúng, chúng ta thực sự có trách nhiệm, bởi vì chúng ta biết chính xác phạm vi, trong việc chiêu hồi cuộc sống các suy nghĩ của chúng ta, và giá trị biểu đạt của thuật toán hoàn toàn nằm ở mối liên hệ không chút mù mờ của các biểu nghĩa phái sinh với các biểu nghĩa sơ khai, và của các biểu nghĩa sơ khai này với những ký hiệu tự thân không mấy ý nghĩa, nơi suy nghĩ chỉ tìm thấy những gì nó từng đặt vào đó.

 

Thuật toán, dự đồ về một ngôn ngữ phổ quát, là sự nổi loạn chống lại thứ ngôn ngữ có ở đó. Người ta không muốn bị phụ thuộc vào những rối loạn của nó, người ta muốn làm lại nó căn cứ theo sự thật, tái định nghĩa nó tùy theo suy nghĩ của Chúa, tái khởi đầu từ con số không lịch sử của lời nói, hay nói đúng hơn là giật lời nói ra khỏi lịch sử. Lời của Chúa, thứ ngôn ngữ trước ngôn ngữ ấy, mà chúng ta luôn luôn giả định là có, người ta không tìm thấy nó nữa trong các ngôn ngữ đang tồn tại, cũng như trộn lẫn vào với lịch sử và thế giới. Chính cái ngôn [verbe] bên trong mới là thẩm phán cho cái ngôn bên ngoài. Theo nghĩa đó, ta ở vào thế đối nghịch với các lòng tin ma thuật đặt từ mặt trời vào trong mặt trời [“lòng tin ma thuật” ở đây liên quan rất nhiều đến truyền thống nhìn nhận ngôn ngữ xuất phát từ Platon; lẽ dĩ nhiên, kể từ Ferdinand de Saussure, cách nhìn ngôn ngữ đã lệch hẳn đi khỏi trục cũ]. Tuy nhiên, được Chúa tạo ra cùng thế giới, được vận hành bởi Người và được tiếp nhận bởi chúng ta như một đấng cứu rỗi, hoặc giả được chuẩn bị trong niệm năng của Chúa nhờ hệ thống các khả thể bao bọc một cách chói ngời lấy thế giới rối loạn của chúng ta và được tìm lại bởi suy tư của con người, nó nhân danh sự phán truyền bên trong này mà sắp xếp sự hỗn độn của các ngôn ngữ lịch sử, xét cho cùng thì ngôn ngữ giống với các vật và các tư tưởng mà nó biểu đạt, nó là lớp lót của là [être], và người ta không hình dung được các từ hoặc tư tưởng đến với thế giới nếu không có các từ. Dẫu nó mang tính chất huyền thoại hay là khả tri, thì cũng có một nơi để mọi thứ gì là hoặc sẽ là cùng một lúc chuẩn bị được nói ra.

 

Ở nhà văn đây là một niềm tin nhất quyết. Cần phải luôn luôn đọc lại những câu đáng kinh ngạc sau đây của La Bruyère, được Jean Paulhan trích dẫn: “Giữa tất tật những cách biểu đạt khác nhau có thể dùng cho một suy nghĩ duy nhất trong số các suy nghĩ của chúng ta, chỉ có một cách biểu đạt đúng. Không phải lúc nào người ta cũng gặp được nó trong khi nói hoặc viết: tuy nhiên đúng là nó có tồn tại.” [trích từ Les Fleurs de Tarbes của Paulhan] Ông ấy biết gì về điều đó? Ông ấy chỉ biết rằng người nói hoặc viết trước tiên câm lặng, hướng về phía điều mà anh ta muốn biểu nghĩa, về phía điều mà anh ta sẽ nói, và rằng đột nhiên đợt sóng các từ đến trợ sức cho sự im lặng này, và mang tới cho nó một tương đương thật chuẩn xác, hết sức đủ để trả về cho bản thân nhà văn suy nghĩ của anh ta khi anh ta đã quên nó đi, đến nỗi cần phải tin rằng nó đã được phát ngôn ở mặt bên kia của thế giới. Ngôn ngữ ở đó như một thứ dụng cụ có thể dùng cho mọi mục đích, nó, với tự vị, các cách nói và hình thức đã phụng sự nhiều đến vậy của mình, luôn luôn đáp lại lời kêu gọi và sẵn sàng biểu đạt mọi thứ, là bởi vì ngôn ngữ là kho báu của mọi thứ gì người ta phải nói, bởi vì ở nó đã được viết sẵn toàn bộ kinh nghiệm tương lai của chúng ta, giống như số phận của con người được viết sẵn tại các vì sao. Vấn đề chỉ nằm ở chỗ gặp cái câu đã được làm sẵn ấy nơi vùng rìa của ngôn ngữ, tóm lấy những lời sượng đục mà hữu thể thì thầm. Cũng như chúng ta thấy rằng bạn bè của chúng ta, vốn dĩ là người như họ vốn dĩ, không thể có cái tên nào khác so với tên mà họ có, rằng khi cấp cho họ một cái tên người ta đã chỉ giải mã những gì từng được đòi hỏi bởi màu mắt đó, cái vẻ đó của khuôn mặt, dáng điệu đó - chỉ một số người bị đặt tên sai và mang suốt cuộc đời, giống một bộ tóc giả hay một cái mặt nạ, một cái tên lừa dối hoặc một tên giả [cũng có thể là “bút danh”] - biểu đạt và cái được biểu đạt tráo đổi theo một cách thức kỳ cục vai của chúng và, thông qua một dạng nhận thức đầy nhầm lẫn, ta thấy như thể sự biểu đạt đã ám ở đó từ muôn đời.

 

Nhưng nếu con người đào lên được một thứ ngôn ngữ tiền sử được nói ra trong các vật, nếu mà có, vẫn trong phạm vi những lời bập bẹ của chúng ta, một thời hoàng kim của ngôn ngữ nơi các từ bám thẳng vào các vật, thì sự giao tiếp chẳng hề có chút bí ẩn nào. Tôi chỉ ra ở bên ngoài tôi một thế giới đã cất tiếng nói giống như tôi đưa ngón tay chỉ vào một vật đã nằm sẵn trong thị trường của những người khác. Người ta nói rằng các biểu đạt của vẻ bên ngoài tự thân chúng cũng mờ mịt và rằng cái màu đỏ của khuôn mặt kia đối với tôi là khoái thú, xấu hổ, giận dữ, nóng bức hoặc giả màu đỏ của truy hoan tùy thuộc theo hoàn cảnh chỉ ra. Cũng vậy, cử động của ngôn ngữ chẳng hề có chút quan trọng nào trong tinh thần người quan sát nó: nó im lặng chỉ cho anh ta những vật mà anh ta đã biết tên, bởi vì anh ta là tên của chúng. Nhưng ta hãy bỏ lại huyền thoại về một thứ ngôn ngữ của vật, hay nói đúng hơn là hãy tóm lấy nó trong hình thức đã thăng hoa của nó, hình thức của một ngôn ngữ phổ quát, tức là cái bọc lấy từ trước mọi thứ gì mà nó có thể phải nói bởi vì các từ của nó cũng như cú pháp của nó phản ánh những khả thể nền tảng và những cấu âm của chúng: hệ quả vẫn y nguyên. Không có phẩm hạnh nào của lời nói, không có quyền năng ẩn giấu nào bên trong nó. Nó là ký hiệu thuần túy cho một biểu nghĩa thuần túy. Người nào nói, sẽ mã hóa suy nghĩ của mình lại. Anh ta thay thế nó bằng một sự sắp xếp vang lên hoặc hiển hiện chẳng là gì khác ngoài những âm thanh trong không khí hoặc các nét bút trên tờ giấy. Suy nghĩ tự biết và tự đủ; nó tự ghi nhận ra bên ngoài qua một thông điệp không mang nó, và chỉ định danh nó, không dính chút mờ mịt nào, cho một suy nghĩ khác có khả năng đọc thông điệp bởi vì nó, nhờ hiệu ứng của sự sử dụng, buộc các quy ước con người, hoặc của một thiết chế thánh thần, cùng biểu nghĩa vào với các ký hiệu. Dẫu có là như thế nào, chúng ta cũng không bao giờ tìm thấy trong các lời nói của người khác điều gì khác ngoài những gì chính chúng ta đặt vào đó, giao tiếp là một sự có vẻ như [apparence], nó không nói cho chúng ta bất kỳ điều gì thực sự mới. Làm sao mà nó có thể đủ sức lôi kéo chúng ta đi ra ngoài quyền năng suy nghĩ của chính chúng ta, vì các ký hiệu mà nó bày ra trước chúng ta hẳn sẽ chẳng nói gì cho chúng ta nếu chúng ta chưa có sẵn về phía chính chúng ta biểu nghĩa của chúng? Quả đúng là trong lúc quan sát giống Fabrice các ký hiệu trong đêm [Merleau-Ponty đang ám chỉ đến Fabrice del Dongo của La Chartreuse de Parme (Stendhal), đoạn Fabrice ngồi tù trong pháo đài; xem thêm ở kia], hoặc giả trong lúc nhìn các chữ chậm và nhanh của tờ báo trượt đi trên những bóng đèn bất động [ô!], tôi thấy như thể ở đó sinh ra một tin tức. Một cái gì đó phập phồng và trở nên sống động: ý nghĩ con người bị chôn vùi vào bên trong khoảng cách. Nhưng xét cho cùng đó chỉ là một ảo tượng. Nếu tôi không ở đó để tri nhận một nhịp điệu và xác định các chữ đang chuyển động, thì hẳn sẽ chỉ có một sự nhấp nháy chẳng nghĩa lý gì giống như các vì sao nhấp nháy, những ngọn đèn sáng lên rồi tắt đi, dưới tác động của dòng điện chạy qua. Ngay cả tin về một cái chết hoặc về một thảm họa mà bức điện mang đến cho tôi, đó tuyệt đối vẫn không phải là một tin tức; tôi chỉ nhận được nó bởi vì tôi đã biết rằng những người chết và những thảm họa là khả thể. Chắc chắn, kinh nghiệm mà con người có với ngôn ngữ không phải là kinh nghiệm đó: họ thích đến phát điên việc được trò chuyện với nhà văn lớn, họ tới thăm ông ta giống như người ta đến ngắm tượng thánh Pierre, tức là họ ngấm ngầm tin vào các phẩm hạnh bí mật của giao tiếp. Họ biết rõ rằng một tin tức là một tin tức và rằng không ích gì khi từng cứ nghĩ mãi tới cái chết chừng nào còn chưa biết cái chết của một người mà người ta yêu quý. Nhưng ngay khi suy nghĩ về ngôn ngữ, thay vì sống nó, họ liền chẳng hề thấy bằng cách nào người ta lại có thể chiếm mất của nó những quyền năng ấy. Dẫu sao, tôi hiểu những gì người ta nói với tôi bởi vì tôi biết từ trước nghĩa các từ mà người ta hướng đến tôi, và xét cho cùng tôi chỉ hiểu những gì mà tôi đã biết, tôi chỉ tự đặt cho mình các vấn đề mới là những vấn đề mà tôi có thể giải quyết. Hai chủ thể nghĩ bị nhốt vào trong các biểu nghĩa của họ - giữa họ các thông điệp chạy đi chạy lại, nhưng chúng không mang gì, chỉ là dịp để mỗi người chú ý đến những gì anh ta đã biết - rốt cuộc, khi một người nói còn người kia nghe, các suy nghĩ thay nhau được tái tạo, nhưng họ chẳng hề hay biết điều đó, và không bao giờ đương đầu với nhau - đúng, như Paulhan nói, lý thuyết chung này về ngôn ngữ hẳn sẽ dẫn tới hệ quả “theo đó rốt cuộc mọi điều diễn ra giữa họ như thể chẳng hề có ngôn ngữ” [trích từ Les Fleurs de Tarbes của Paulhan].

 

favorites
Thêm vào giỏ hàng thành công