Bà lão
Ngày 14 tháng Giêng năm 1941, María Justina Rubio de Jáuregui tròn một trăm tuổi. Bà là người con gái cuối cùng còn sống của một trong những người lính đã chiến đấu trong cuộc Chiến tranh Giành Độc lập Nam Mỹ. Đại tá Mariano Rubio, cha bà, là người mà ta có thể - không sợ bất kính - gọi là một nhân vật bất tử hạng nhỏ. Ông sinh năm 1799 tại giáo xứ La Merced của Buenos Aires, con trai một gia đình địa chủ. Ông được phong hàm chuẩn úy trong Quân đội Andes của San Martín và đã chiến đấu trong trận Chacabuco, trận thất bại ở Cancha Rayada, trận Maipú, và hai năm sau đó ở Arequipa. Người ta kể rằng vào đêm trước một trong những trận đánh ấy, ông và một sĩ quan đồng ngũ, José de Olavarría, đã đổi kiếm cho nhau. Đầu tháng Tư năm 1823 thì diễn ra trận Big Hill nổi tiếng, vì giao tranh trong một thung lũng giữa hai đỉnh núi nên nó thường được gọi là trận Red Hill. Người Venezuela, vốn luôn tị hiềm những vinh quang của chúng ta, gán chiến thắng này cho Tướng Simón Bolívar; nhưng một sử gia Argentina vô tư thì không dễ bị qua mặt và biết rõ rằng vòng nguyệt quế thuộc về Đại tá Mariano Rubio. Chính Đại tá, chỉ huy một trung đoàn kỵ binh Colombia, đã xoay chuyển cục diện một trận đánh hoàn toàn bằng gươm và thương, mở đường cho trận Ayacucho cũng lừng danh không kém, nơi ông lại tham chiến và bị thương. Năm 1827, số phận đưa ông đến trận Ituzaingó, dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Alvear. Dù có họ hàng với nhà độc tài Rosas, về sau ông lại theo phe Lavalle và từng đánh tan một toán dân quân gaucho trong một trận mà Đại tá luôn gọi là một bữa tiệc gươm đao. Khi phe Unitarian thất bại, ông sang Uruguay và kết hôn ở đó. Trong những năm 1840, giữa cuộc nội chiến dằng dặc của nước này - Guerra Grande - ông qua đời tại Montevideo trong thời gian thành phố bị quân Blanco của Oribe vây hãm. Lúc đó ông gần bốn mươi bốn tuổi, thời ấy đã gần như là già. Ông từng là bạn của nhà văn Florencio Varela. Có lẽ nếu thi vào Học viện Quân sự, ông sẽ bị đánh trượt, vì kinh nghiệm duy nhất của ông là chiến trận chứ không phải thi cử. Ông để lại hai cô con gái; người con út, María Justina, là nhân vật của câu chuyện này.
Cuối năm 1853, vợ goá của Đại tá và hai con gái dọn về Buenos Aires. Họ không bao giờ lấy lại được mảnh đất của mình, vốn đã bị nhà độc tài tịch thu trong thời gian dài Đại tá vắng mặt, nhưng ký ức về những dặm đất mênh mông mà họ chưa từng đặt chân lên vẫn sống dai dẳng nhiều năm trong gia đình. Năm mười bảy tuổi, María Justina kết hôn với bác sĩ Bernado Jáuregui, người tuy là dân sự nhưng đã chiến đấu trong các trận Pavón và Cepeda của thời nội chiến và sau này qua đời khi đang hành nghề trong đợt dịch vàng da những năm 1870. Ông để lại một con trai và hai con gái. Mariano, con trai cả, là nhân viên hải quan; anh thường lui tới Thư viện Quốc gia và Lưu trữ Quốc gia, với ý định biên soạn một tiểu sử đầy đủ về người anh hùng - ông ngoại mình - công việc mà anh không bao giờ hoàn thành và có lẽ chưa từng thực sự bắt tay vào. Con gái lớn, María Elvira, lấy anh em họ, một người thuộc nhà Saavedra làm việc ở Bộ Tài chính. Julia, cô con thứ, lấy ông Molinari, người, dù mang họ Ý, lại là giáo sư tiếng Latin và có học vấn bậc nhất. Tôi bỏ qua con cháu đời sau; chỉ cần độc giả hình dung một gia đình lương thiện, sa sút thế lực, được che chở bởi bóng hình một anh hùng và một người con gái sinh ra nơi lưu đày
Cả nhà sống đạm bạc ở Palermo, khi ấy vẫn còn là vùng ngoại ô Buenos Aires, không xa nhà thờ Guadalupe. Mariano vẫn nhớ đã thấy ở đó, từ một toa tàu điện của tuyến Grand National Lines, cái ao lớn, quanh đó lác đác những túp lều - không phải bằng tôn mà bằng gạch chưa trát. Cái nghèo ngày trước ít nghèo hơn cái nghèo mà chủ nghĩa công nghiệp để lại cho chúng ta hôm nay. Thời ấy tài sản cũng nhỏ bé hơn nhiều. Nhà Rubio ở tầng trên một cửa hàng tạp hoá địa phương. Cầu thang hẹp; lan can chạy dọc bên phải dẫn tới một hành lang dài, cuối hành lang là một tiền sảnh tối, nơi đặt một giá treo áo và vài cái ghế. Từ tiền sảnh mở vào phòng khách nhỏ với bộ ghế bọc; phòng khách thông sang phòng ăn, có đồ gỗ gụ và tủ cửa kính bày đồ sứ. Những cửa chớp kim loại, lúc nào cũng đóng vì sợ nắng, chỉ để lọt vào le lói hoàng hôn. Tôi còn nhớ mùi những đồ vật cất giữ lâu ngày.
Phía sau nhà là phòng ngủ, nhà tắm, một hành lang nhỏ có bồn giặt và phòng người giúp việc. Cả ngôi nhà không có cuốn sách nào ngoài một tập thơ của Andrade, một cuốn tiểu sử ngắn của người anh hùng với những ghi chú viết tay chen lấn ở lề và bộ Bách khoa toàn thư Hispano-Americana của Montaner y Simón với cái kệ nhỏ đi cùng - mua trả góp. Họ sống bằng tiền hưu - lúc nào cũng trả chậm - và khoản thu nhập từ một ngôi nhà cho thuê, phần tài sản duy nhất còn lại của trang điền mênh mông thuở nào, nằm ở Lomas de Zamora.
Thời điểm câu chuyện diễn ra, bà lão sống với Julia - khi ấy đã góa chồng - và con trai của Julia. Bà Jáuregui vẫn tiếp tục căm ghét những bạo chúa thuở trước - Artigas, Rosas và Urquiza. Thế chiến thứ nhất, khiến bà căm người Đức (một dân tộc mà bà biết rất ít), đối với bà còn kém thực hơn cuộc cách mạng năm 1890 và dĩ nhiên là cuộc xung phong ở Big Hill. Từ năm 1932, bà đã mờ dần; những ẩn dụ quen thuộc là hay nhất, vì chúng là những điều duy nhất đúng. Bà tất nhiên là người Công giáo, nhưng điều đó không có nghĩa bà tin vào một Thiên Chúa vừa là Một vừa là Ba hay tin vào đời sau. Khi hai tay lần tràng hạt, bà lẩm bẩm những lời kinh mà bà chưa bao giờ hiểu. Thay vì Phục Sinh hay Lễ Hiển Linh, bà chấp nhận Giáng Sinh, cũng như đã quen chấp nhận uống trà thay cho maté. Với bà, các từ "Tin Lành", "Do Thái", "Hội Tam Điểm", "dị giáo" và "vô thần" đều đồng nghĩa và đều rỗng tuếch. Khi còn nói được, bà không gọi người Tây Ban Nha là "Spaniards" mà gọi là "bọn Goth" - đúng như tổ tiên bà từng gọi. Hồi Kỷ niệm Một Trăm Năm, năm 1910, bà gần như không tin nổi rằng công chúa Tây Ban Nha - dù sao cũng là công chúa - lại nói, trái với mọi mong đợi, như một người Tây Ban Nha bình thường chứ không phải như một phu nhân Argentina; chính tại đám tang con rể bà, một bà họ giàu có - người chưa bao giờ đặt chân đến nhà Jáuregui nhưng có cái tên mà cả nhà vẫn háo hức dò tìm trên trang buôn chuyện thượng lưu của các tờ báo - đã báo cho bà tin khó chịu ấy. Nhiều địa danh bà Jáuregui dùng đã lâu bị đổi tên; bà vẫn còn gọi những con đường là Las Artes, Temple, Buen Orden, La Piedad, Calle Larga, và cả Plaza del Parque cùng Portones. Gia đình cũng bắt chước những cách gọi cổ lỗ ấy - mà ở bà là hết sức tự nhiên. Họ gọi người Uruguay là "Orientales" thay vì "Uruguayans."
Bà Jáuregui không bước chân ra khỏi nhà kể từ năm 1921; có lẽ bà chẳng bao giờ ngờ rằng Buenos Aires đã đổi khác và lớn thêm. Những ký ức đầu đời luôn hằn rõ nhất. Thành phố mà bà tưởng tượng ở bên ngoài cửa nhà có lẽ là một thành phố xưa hơn nhiều so với thành phố khi họ buộc phải rời trung tâm để chuyển ra Palermo. Nếu đúng là như vậy thì trong tâm trí bà, những con bò kéo xe vẫn còn nghỉ chân ở quảng trường Once, và những đoá violet đã tàn vẫn còn toả hương trong những khu vườn của Barracas. "Giờ mọi giấc mơ của tôi đều là về người chết" là một trong những điều cuối cùng người ta nghe bà nói. Không ai từng nghĩ bà là người ngu muội, nhưng theo tôi biết, bà chưa bao giờ hưởng được những khoái cảm của trí tuệ; khoái cảm cuối cùng dành cho bà là của ký ức và, về sau, của lãng quên. Bà vốn rộng lượng. Tôi còn nhớ đôi mắt tươi sáng, tĩnh lặng và nụ cười của bà. Ai biết được trong bà già ấy từng có bao nhiêu sóng gió dục vọng - những dục vọng đã từng cháy bừng; thuở xuân thì bà cũng khá xinh. Nhạy cảm với cây cối - loài sống âm thầm và khiêm nhường, gần gũi với đời sống của chính bà - bà chăm mấy chậu begonia trong phòng và chạm vào những chiếc lá mà bà không còn nhìn thấy nữa. Cho đến năm 1929, năm chìm vào một trạng thái nửa ngủ mê, bà vẫn kể lại các biến cố lịch sử, nhưng luôn bằng cùng các ngữ, theo cùng một thứ tự, như thể đọc Kinh Lạy Cha; đến mức tôi bắt đầu ngờ rằng phía sau những lời ấy chẳng còn hình ảnh thật nào nữa. Ngay cả chuyện ăn món này hay món khác với bà cũng giống y nhau. Tóm lại, bà hạnh phúc.
Ngủ, như ta đều biết, là hành vi bí mật nhất của con người. Ta dành một phần ba đời mình cho nó, vậy mà vẫn không hiểu được nó. Với một số người, đó chỉ là một sự che khuất trạng thái tỉnh; với người khác, đó là một trạng thái phức tạp hơn, nơi quá khứ, hiện tại và tương lai cùng tồn tại; với những người khác nữa, đó là một chuỗi mơ bất tận. Nói rằng bà Jáuregui đã trải qua mười năm trong hỗn độn êm lặng có lẽ là sai; từng khoảnh khắc của mười năm ấy có thể đều là một hiện tại thuần, không có trước hay sau. Không có gì phải ngạc nhiên trước thứ hiện tại ấy - chúng ta đếm nó bằng những ngày và những đêm, bằng hàng trăm tờ lịch, bằng những lo âu và biến cố; đó cũng chính là điều ta trải qua mỗi sáng trước khi tỉnh dậy và mỗi tối trước khi chìm vào giấc ngủ. Mỗi ngày hai lần, tất cả chúng ta đều trở thành bà lão.
Gia đình Jáuregui, như ta đã thấy, sống trong một tình thế phần nào giả tạo. Họ cảm thấy mình thuộc về giới quý tộc, nhưng những người được nhắc đến trong mục thượng lưu trên báo thì chẳng biết gì về họ; họ là hậu duệ của một vị khai quốc, nhưng sách giáo khoa phần lớn chẳng hề nhắc tới ông. Dĩ nhiên có một con đường mang tên ông, nhưng con đường ấy - ít ai biết đến - nằm khuất sau nghĩa trang Westside bát ngát.
Ngày mười bốn tháng Giêng sắp đến. Mồng mười, một sĩ quan vận lễ phục chỉnh tề trao cho gia đình một lá thư do chính Bộ trưởng Chiến tranh ký, báo rằng ông sẽ đến thăm vào ngày mười bốn. Nhà Jáuregui đem thư cho cả khu phố xem và làm rộn lên về giấy tiêu đề in nổi và chữ ký. Rồi các nhà báo kéo đến. Gia đình cung cấp cho họ mọi thông tin có thể; rõ ràng là họ chưa từng nghe đến Đại tá Rubio. Những người mà gia đình hầu như chẳng quen biết cũng gọi điện đến để xin được mời.
Ai nấy làm việc cật lực để chuẩn bị cho ngày trọng đại. Người ta đánh bóng sàn, rửa cửa sổ, tháo rèm che các đèn chùm, lau chùi đồ gỗ gụ, đánh sáng toàn bộ đồ sứ bày trong tủ, xê dịch lại đồ đạc và mở nắp cây đàn piano phòng khách ra để khoe tấm khăn nhung phủ lên phím đàn. Người ra kẻ vào tấp nập. Một bà hàng xóm tốt bụng cho mượn một chậu hoa phong lữ. Người duy nhất không hay biết gì về tất cả những chuẩn bị ấy là bà Jáuregui, với nụ cười bất biến trên môi, dường như chẳng hiểu gì hết. Với sự giúp đỡ của người hầu gái, Julia sửa soạn cho mẹ như thể đang chuẩn bị cho bà sau khi qua đời. Khi khách bước vào nhà, thứ đầu tiên họ sẽ thấy là bức chân dung sơn dầu người anh hùng, và ngay bên dưới, hơi chếch sang phải, là thanh gươm từ những trận đánh ông từng tham gia. Cả trong những thời kỳ khó khăn, nhà Jauregui vẫn từ chối bán thanh gươm, luôn nghĩ rằng một ngày nào đó họ sẽ tặng nó cho Bảo tàng Lịch sử.
Buổi tiệc dự định bắt đầu lúc bảy giờ. Họ ấn định giờ mời là sáu rưỡi, biết rõ chẳng ai thích đến đầu tiên. Đến bảy giờ mười, vẫn chưa một ai xuất hiện; cả nhà bắt đầu bàn cãi, hơi hồi hộp, về ưu và khuyết điểm của việc không đúng giờ. Elvira, người luôn tự hào về thói quen đến đúng từng phút, quả quyết rằng bắt người khác chờ là một sự vô lễ không thể tha thứ. Julia thì nhắc lại điều chồng bà từng nói, rằng đến muộn mới là lịch sự, vì nếu ai cũng đến muộn thì mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn, chẳng ai phải giục ai. Đến bảy giờ mười lăm, căn nhà chật kín. Cả khu phố đều thấy - và ghen tị - chiếc xe hơi cùng tài xế riêng của bà Figueroa, người hầu như chẳng bao giờ mời nhà Jáuregui đến nhà mình, nhưng được gia chủ đón tiếp nồng nhiệt để không ai đoán ra rằng họ gặp nhau hiếm như sao Saigon. Tổng thống gửi sĩ quan tùy viên đến; một quý ông cực kỳ nhã nhặn, nói rằng ông lấy làm vinh dự được bắt tay con gái của người anh hùng trận Big Hill. Bộ trưởng - phải rời đi sớm - đọc một bài diễn văn rất hay, dù nói về tướng San Martín nhiều hơn là về đại tá Rubio. Bà lão ngồi trong chiếc ghế bành, kê gối sau lưng; thỉnh thoảng bà gật đầu tán đồng hoặc làm rơi chiếc quạt. Một nhóm quý bà danh giá thuộc Hội Con gái Cộng hoà hát Quốc ca cho bà nghe, nhưng dường như bà chẳng buồn để ý. Các nhiếp ảnh gia gom mọi người lại thành những bố cục nghệ thuật và thi nhau bấm đèn flash. Những ly sherry và port nhỏ không đủ; có người liền khui thêm vài chai champagne. Bà Jáuregui không nói một lời; có lẽ bà cũng không còn biết mình là ai. Từ đêm ấy trở đi, bà không bao giờ rời giường nữa.
Khi tất cả người lạ đã về, gia đình bày một bữa tối nguội nho nhỏ. Hương trầm thanh nhẹ từ lâu đã bị xua đi bởi mùi khói thuốc và mùi cà phê.
Các báo buổi sáng và buổi chiều đều đồng loạt nói dối một cách trung thành, ca tụng trí nhớ gần như kỳ diệu của con gái vị anh hùng, người được họ mô tả là "một kho tàng hùng biện chứa cả thế kỷ lịch sử Argentina." Julia muốn đưa mẹ xem những mẩu báo cắt ấy. Trong căn phòng nhập nhoạng, bà lão nằm bất động, mắt nhắm. Bà không hề sốt; bác sĩ khám và bảo mọi thứ vẫn thế. Vài ngày sau, bà qua đời. Sức ép của quá nhiều người, tiếng ồn bất thường, đèn flash loé liên tục, bài diễn văn, quân phục và vô số cái bắt tay đã làm cái chết của bà đến sớm hơn. Có lẽ bà tưởng đó là tay sai của Rosas kéo đến phá nhà.
Tôi nghĩ về những người lính ngã xuống ở Big Hill; tôi nghĩ về những người vô danh ở châu Mỹ và Tây Ban Nha chết dưới vó ngựa; tôi nghĩ nạn nhân cuối cùng của đoàn thương giáo ấy trên cao nguyên Peru, hơn một thế kỷ sau, lại chính là một bà lão rất già.
Anh Hoa dịch
